Chủ đề: DIỄN ĐÀN SINH VIÊN NÔNG HỌC / QUẢN LÝ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CÂY TRỒNG -IPM

Facebook Share
Yahoo Share Linkhay Share

QUẢN LÝ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CÂY TRỒNG -IPM

KHÁI NIỆM IPM

Xem hình

 

QUẢN LÝ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CÂY TRỒNG -IPM

       QUẢN LÝ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CÂY TRỒNG (IPM)

          I-LƯỢC SỬ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH IPM:

          1-Tình hình sản xuất  lúa và phòng trừ sâu bệnh  trước đây:

          Từ việc săn bắt,hái lượm đến việc tra lỗ tỉa hạt là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tiến hoá của loài người.Nhưng cột mốc dánh dấu nền văn minh của loài người chính là bằng việc trồng lúa nước.

          Thực vậy,ngay từ xa xưa ông bà chúng ta đã biết trồng lúa nước để sản xuất  lương thực cho chính họ.Bằng việc sử dụng những giống lúa có sẵn trong tự nhiên con người biết gieo cấy để thu sản phẩm.Có một điều chúng ta có thể khẳng định rằng ở thời kỳ ấy người ta không hề sử dụng các hoá chất  nông nghiệp ( phân bón ,thuốc BVTV )để tác động vào đồng ruộng nhưng họ vẫn được mùa.

          Song song với sự tiến hoá,con người đã dần cải tiến các biện pháp canh tác :lựa chọn giống tốt và sử dụng phân bón .Cây lúa sinh trưởng khỏe hơn,năng suất  thu được cao hơn nhưng sâu bệnh  hại cũng xuất hiện nhiều hơn.Do đó con người  trong  trồng trọt đã phải tiến hành một cuộc đấu tranh thường xuyên với sâu bệnh  và cỏ dại.

          Ban đầu con người chỉ biết thực hiện các biện pháp phòng trừ đơn giản như bắt sâu ,ngắt bỏ lá bênh hay dùng vợt bắt châu chấu,bọ xít...Tiến hơn chút nữa,con người biết lựa mùa trồng trọt để giảm sâu bệnh phá hại,biết chọn trồng những gíống có tính kháng(ít bị) sâu bệnh  gây hại...    Người ta cũng nhận thấy việc làm đất kỹ,cày phơi ải đất hoặc luân canh một số cây trồng với nhau sẽ giảm sâu bệnh   phá hại.

          Cho đến những năm 40 của Thế kỷ XX,khi mà các thuốc trừ sâu như DDT và 666 đã được nhận biết một cách đầy đủ thì công tác phòng trừ  sâu bệnh  của nông dân đã chuyển sang giai đoạn mới.Sự kiện này đã khai sinh ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên thuốc trừ dịch hại tổng hợp hữu cơ theo lối sản xuất công nghiệp ra đời.

  DDT đã trỏ thành loại thuốc tuyệt vời và nổi tiếng,đầu tiên được sử dụng rộng rãi trong y tế và quân đội vì hiệu lực của nó đối với ruồi muỗi và các loại ký sinh trùng truyền bệnh nguy hiểm cho con người .Sau thế chiến thứ II ,DDT được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp và đã nhanh chóng chiếm được sự tin cậy của nông dân vì hiệu quả trừ sâu rất mạnh.

          Với thị phần nông nghiệp hết sức to lớn,việc  sản xuất  và cung ứng các thuốc BVTV  đã trở nên hấp dẫn các Công ty hoá chất và từ đó hàng loạt thuốc BVTV  ra đời,lần lượt tỏa khắp các nước trồng lúa trên thế giới.Cuối cùng biện pháp phòng trừ bằng hoá học đã được chấp nhận một cách phổ biến đên mức người ta đã tự đặt ra lịch phun thuốc theo định kỳ để phòng trừ các loại dịch hại  cây trồng.

          Rõ ràng là các hợp chất trừ sâu tổng hợp  đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao sản lượng nông nghiệp thế giới trong suốt các thập kỷ 50 và 60.Từ đó dẫn đến ấn tượng cho rằng thuốc BVTV  có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của BVTV.Người ta chỉ chú trọng đến việc ngiên cứu phát triển và ứng dụng các thuốc hoá học vào công tác bảo vệ cây trồng ,các lĩnh vực khác liên quan đến BVTV ít được quan tâm đến.

          Song một thực trạng xảy ra ở nhiều vùng trồng lúa là vấn đề bộc phát dịch hại ,người ta càng sử dụng nhiều thuốc trừ sâu  thì dịch hại bộc phát càng mạnh.Điều này buộc các nhà Khoa học phải suy nghĩ xem xét lại biện pháp phòng trừ sâu bệnh  bằng hoá học .

          2-Tác hại của vịệc sử dụng thuốc BVTV trên đồng ruộng:

                   Việc sử dụng  biện pháp hoá học để phòng trừ  sâu bệnh  trong một thời gian dài đã gây ra nhiều tác hại đáng kể.Trong khi sử dụng  thuốc người ta nhận thấy muốn đật được hiệu quả trừ sâu như lúc ban đầu,hàng năm cần phăi tăng nồng độ thuốc.Cho đến một lúc nào đó sâu bệnh   trở nên quen thuốc và không còn bị chết do thuốc,sâu đã hình thành tính kháng thuốc.Từ việc kháng một loại thuốc,do sự sử dụng không đúng cách con người đã tạo ra các chủng sâu kháng lại tất cả các loại thuốc trừ sâu .

          Việc sử dụng  thuốc trừ sâu thiếu thận trọng cũng làm xuất hiện những loại sâu hại mới mà trước đây chúng là loại sâu hại không quan trọng bị các loài khác lấn át.

  Sử dụng nhiều thuốc trừ sâu  trên đồng ruộng cũng gây mất cân bằng sinh thái-đó là chuỗi mắt xích giữa cây trồng -sâu hại -thiên địch.Thuốc sâu tiêu diệt thiên địch-là yếu tố kìm hãm mật độ sâu hại -nên sâu phát triển tự do và bộc phát thành dịch.

  Ngoài ra thuốc trừ sâu còn gây ngộ độc cho con người và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống,đến động vật thuỷ sinh .Nguy hiểm hơn là nó tích luỹ trong nông sản để rồi gây hại cho những người tiêu dùng các nông sản đó.

3-Sự ra đời của chương trình qủan lý dịch hại tổng hợp (IPM):

Bằng việc phát hiện ra vấn đề sử dụng hoá chất BVTV  đã làm mất cân bằng Hệ sinh thái ,làm huỷ diệt mối quan hệ bền vững giữa cây trồng -sâu hại -thiên địch các nhà Khoa học đã định hướng ra môth chiến lược phòng trừ  sâu bệnh  mới đó là bằng cách nào đó giữ cho được mối quan hệ cân bằng tự nhiên trong Hệ sinh thái ,cách duy nhất là không tác động các hoá chất BVTV .ý tưởng đó đã được kiểm chứng tại Viện đấu tranh sinh học quốc tế (Malaysia) và Viện ngiên cứu lúa quốc tế (Philippiness) bằng cách trồng lúa trong  điều kiện không phun thuốc trừ sâu  có đối chứng với việc phun thuốc.Kết quả cho thấy ở ruộng không phun thuốc trừ sâu  Hệ sinh thái  được cân bằng,thiên địch phát triển đủ sức khống chế sâu hại ;ở ruộng có phun thuốc trừ sâu  thì ngược lại,sâu hại phát triển mạnh gây ảnh hưởng đến năng suất .

Với thành công này,các nhà khoa học đưa áp dụng đại trà đầu tiên ở Indonesia năm 1986,tại vùng que hương Tổng thống Shuharto-nơi liên tiếp 2 năm 1985 và 1986 bị Rầy nâu hại nặng.Các nhà khoa học đã hướng dẫn nông dân vùng này sử dụng giống kháng rầy,tác động các biện pháp  kỹ thuật cho cây trồng sinh trưởng  khoẻ và không phun thuốc trừ rầy.Lập tức dịch Rầy nâu bị lắng xuống.2 vụ liên tục,bằng cách này các nhà khoa học đã dập tătd dịch Rầy nâu  ở Indonesia.Trước thành công này,năm 1987 Tổng thống Indonesia đã ra sắc lệnh cấm nhập 57 loại hoạt chất trừ sâu vào Indonesia.Từ đó đã hình thành nên một biện pháp phòng trừ sâu bệnh  mới mà không cần sử dụng thuốc trừ sâu và  chương trình qủan lý dịch hại tổng hợp -IPM-ra đời.

Từ Indonesia  chương trình qủan lý dịch hại tổng hợp đã lan dần ra nhiều nước trồng lúa trên thế giới.Năm 1992 VN đã chính thức tham gia mạng lưói IPM network và từ đó đến nay  chương trình qủan lý dịch hại tổng hợp  đã phát triển mạnh mẽ ở VN mang lại cho nông dân nhiều lợi ích thiết thực.

4-Định nghĩa và nguyên tắc IPM:

  IPM viết tắt từ cụm từ tiếng Anh  Integrated Pest Management,có nghĩa là qủan lý dịch hại  một cách tổng hợp (Còn gọi là phòng trừ tổng hợp ).Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về phòng trừ tổng hợp (PTTH)và dưới đây là định nghĩa phòng trừ tổng hợp của FAO (1972) như sau:" Phòng trừ tổng hợp là một hệ thống quản lý dịch hại  mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài sâu hại ,sử dụng tất cả các  kỹ thuật và biện pháp  thích hợp có thể được nhằm duy trì  mật độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế".

Theo Oudejans (1991) PTTH quan niệm một cách lý tưởng là một hệ thống phòng trừ hợp lý về kinh tế và vững bền,dựa trên sự phối hợp các biện pháp trồng trọt,sinh học,di truyền chọn giống và hoá học ,nhằm đạt được những sản lượng cao nhất với tác hại tới môi trường ít nhất .

IPM hoạt động theo 4 nguyên tắc:

a-Trồng cây khỏe:chọn giống tốt,bón phân cân đối và chăm sóc hợp lý nhằm tạo tiền đề cho cây trồng sinh trưởng  khỏe,có khả năng cho năng suất  cao và đền bù lại những mất mát (lá,thân)do sâu hại hay tác nhân khác gây ra.

b- Bảo vệ  thiên địch: thiên địch là côn trùng có ích,sử dụng  nguồn thức ăn chính là sâu hại  do đó có tác dụng kìm hãm  mật độ sâu hại  một cách đáng kể.Thiên địch đã có sẵn trong tự nhiên và được  bảo vệ bằng cách không phun thuốc BVTV lên đồng ruộng.

          c-Thường xuyên thănm đồng hàng tuần:quan sát sự sinh trưởng  của cây trồng  để có biện pháp  tác động thích hợp (nước ,phân...)giúp cây trồng phát triển  tốt.Điều  tra  mật độ sâu hại và thiên địch để đánh giá mức độ cân bằng của chúng nhằm giúp đề ra quyết định xử lý thích hợp.

          d-Nông dân trở thành chuyên gia:chuyên gia nghĩa là tinh thông trong lĩnh vực nào đó.Huấn luyện nông dân trở thành chuyên gia tức là nông dân đã am tường về canh tác lúa và quản lý tổng hợp dịch hại . Họ có khả năng ứng dụng thành công IPM trên ruộng nhà và hướng dẫn cho nhiều nông dân khác cùng làm theo IPM.Nguyên tắc náy mang tính xã hội và tính cộng đồng.

          Về nguyên lý IPM cần được hiểu:

          -Trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp  tất cả các biện pháp  kỹ thuật tham gia cần phải hài hoà với các yếu tố  môi trường ,đặc biệt cần khai thác tối đa các yếu tố gây chết tự nhiên của sâu hại .

          -Không thể cho rằng có thể tiêu diệt hết các cá thể gây hại trên đồng ruộng

mà chỉ có thể duy trì  mật độ chúng ở dưới mức gây hại có ý nghĩa.Như vậy,một biện pháp phòng trừ sẽ được áp dụng nếu không thì giá trị tổn thất về sản lượng sẽ lớn hơn chi phí của việc xử lý.

          -Sâu hại ở  mật độ  thấp không được xem là dịch hại mà đôi khi còn có lợi vì là nguồn thức ăn để duy trì sự sống của quần thể thiên địch.Chấp nhận một  mật độ  sâu hại  nhỏ trên đồng ruộng là một ý tưởng tốt.

          -Không thể quan niện quản lý dịch hại tổng hợp  là một qui trình cứng nhắc để áp dụng trong mọi trường hợp mà cần phải coi đó như là một nguyên tắc cần phải tuân theo để xá định một giải pháp tối ưu trong một tình huống cụ thể.

          -IPM là sự vận dụng linh hoạt trên nền tảng khoa học cũ và những tiến bộ  kỹ thuật  mới.

          II-HỆ SINH THÁI  VÀ CÁC YẾU TỐ TRONG HỆ SINH THÁI :

          1/ Hệ sinh thái :tập hợp các loài sinh vật cùng tồn tại trên một vùng không gian với các điều kiện tự nhiên xác  định.

          Hệ sinh thái  bao gồm các yếu tố  sinh vật :cỏ cây ,động vật ,Vi sinh vật ...và các yếu tố  phi sinh vật :đất nước ,ánh sáng,phân bón...Hệ sinh thái là một hệ thống cấu trúc hoàn chỉnh với nhiều mối quan hệ bên trong làm cho hệ thống tồn tại và phát triển trong trạng thái cân bằng sinh thái .Hệ sinh thái có các mối quan hệ bên ngoài với các Hệ sinh thái  khác trên cở sở trao đổi vật chất,năng lượng và thông tin trong quá trình vận động không ngừng của vật chất.

          PTTH ngày nay được quan niệm là một hệ thống phòng trừ  dịch hại dựa trên cở sở sinh thái ,phù hợp với điều kiện  môi trường .Vì vậy hiể biết về Hệ sinh thái ,đặc biệt là Hệ sinh thái  đồng ruộng sẽ là cở sở cho việc quản lý tổng hợp dịch hại .

          Trong nền  nông nghiệp cổ truyền  Hệ sinh thái mang tính đa dạng và bền vững do ít bị tác động bỡi các yếu tố  bên ngoài.Còn ở nền nông nghiệp hiện đại do chuyển từ  sản xuất tự cấp sang  sản xuất  hàng hoá ,con người đã tác động nhiều nhân tố ( phân bón ,thuốc trừ sâu ...)lên Hệ sinh thái đồng ruộng với mục đích thu được nhiều sản phẩm song cũng làm ô nhiễm môi trường ,ảnh hưởng đến sức khỏe con người .huỷ hoại các sinh vật có ích...gây nên những biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc trong Hệ sinh thái đồng ruộng.Do đó ở nền nông nghiệp hiện đại,Hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học kém,cân bằng sinh học dễ bị phã vỡ,mà sâu hại  là những tiềm năng gây mất ổn định trong Hệ sinh thái nông nghiệp.

          2-Các yếu tố  trong Hệ sinh thái đồng ruộng:

          Có thể chia các yếu tố  trong Hệ sinh thái  thành 2 nhóm:

                   -Nhóm yếu tố phi sinh vật .

                   -Nhóm yếu tố sinh vật .

          a-Nhóm yếu tố phi sinh vật :

          Trong nhóm này bao gồm:

                   -các yếu tố địa lý:vĩ độ ,độ cao,địa hình.

                   -Các yếu tố thời tiết khí hậu:nhiệt độ,ẩm độ,lượng mưa.ánh sáng...

                   -Các yếu tố  môi trường đất:tính chất cở lý đất,độ phì,hàm lượng mùn trong đất,thành phần và hàm lượng dinh dưỡng trong đất.

                   -Chế độ nước:nước tưới hay nước trời,thời gian khô hạn hay ngập úng trong năm,chất lượng nước(phèn,mặn,chua...)

          Những yếu tố  phi sinh vật  đặc trưng,quyết định tính chất của Hệ sinh thái là các yếu tố  thời tiết,đất đai và chế độ nước.

          Các yếu tố  phi sinh vật  gây hại cho cây trồng thường gặp là:

                   -Điều kiện thời tiết bất thường:khô hạn ,sương muối,mưa đá...

                   -Đất thiếu dinh dưỡng(thiếu P,K,vi lượng ...),đất nhiễm độc do phèn chua hay phèn mặn,đất yếm khí...

                   -Bị nhiễm độc môi trường nước hoặc không khí.

          Các yếu tố  trên đều gây ra hiện tượng bệnh lý ở cây trồng  làm cât kém phát triển ,chết từng phần hoặc tòan bộ...và thường được gọi là bệnh sinh lý.Thông thường các benh sinh lý có thể được ngăn ngừa hay lhắc phục bằng các  kỹ thuật  canh tác  như bón phân, sục bùn... nhưng trong trường hợp những tác động này kéo dài hoặc quá mạnh thì cây không thể hồi phục bình thường được và tổn thất năng suất  là điều khó tránh khỏi.

          b-Nhóm yếu tố sinh vật :

          Trong nhóm này bao gồm:

                   -Cây trồng.

                   -Cỏ dại sống cạnh tranh với cây trồng .

                   -Các động vật bậc cao bao gồm:

                             .Các loài ăn thực vật:chim ,chuột...

                             .Các loài ăn động vật:ếch,nhái,rắn,chồn...

                   -Các động vật bậc thấp bao gồm:

                             .Các loài ăn thực vật:sâu hại ,nhện hại,ốc bươu vàng...

                             .Các loài ăn động vật:các loại côn trùng ăn mồi,ký sinh...

                   -các VSV:nấm,vi khuẩn,mycoplasma và virus.Trong đó gồm các loại VSV gây bệnh cho cây,VSV gây bệnh cho côn trùng và VSV đất.

                   -Các loại tuyến trùng gồm các loại gây bệnh cho cây và cho côn trùng.

                   -Các loài sinh vật khác sống trong nước hoăc quanh cây trồng ,gồm các loại không có lợi cũng không có hại cho cây trồng .

          Trong các yếu tố sinh vật (con người  được xét riêng) cây trồng  có vai trò chủ yếu được coi là yếu tố  đặc trưng trong Hệ sinh thái nông nghiệp.Điêù này dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa Hệ sinh thái  ruộng lúa  với Hệ sinh thái ruộng rau.

          Các yếu tố  sinh vật  có liên quan ảnh hưởng tới sự phát triển của cây trồng  là:

          -Cỏ dại:là những thực vật tồn tai trên đồng ruộng ngoài ý muốn của con người .Chúng luôn cạnh tranh dinh dưỡng,ánh sáng,ẩm độ với cây trồng .Một số loài cỏ dại còn là nơi cư trú của sâu hại ,là ký chủ của VSV gây bệnh cho cây.Chúng còn là nơi lưu giữ sâu bệnh  sau thu hoạch và lan tiếp đên vụ sau

          Quan điểm IPM cho rằng cỏ dại bờ mương là nơi trú ngụ của nhiều loại thiên địch sau thu hoạch. đó là nguồn cung cấp thiên địch cho ruộng lúa sau khi gieo sạ.

          -Các vi sinh vật gây bệnh cho cây: Nhóm này bao gồm Nấm,Vi khuẩn,Mycoplasma và Virus.Chúng xâm nhập vào cây trồng và gây nên những rối loạn sinh lý hoặc huỷ hoại từng bộ phận cây trồng .Chúng được coi là gây bệnh khi có triệu chứng bệnh thể hiện bên ngoài.Bệnh không những làm giảm năng suất  mà còn ảnh hưởng đến phẩm chất,làm giảm giảtị hàng hoá của nông sản.

          -Sâu hại: là những loại côn trùng ăn thực vật và gây hại cho cây trồng .Cách gây hại của chúng cũng khác nhau,có loại ăn lá(sâu cuốn lá,sâu keo...)có loại phá thân lúa(đục thân ,sâu năn...),có loài chích hút trên lá(bọ trĩ),hút thân(rầy nâu),hút hat(bọ xít dài)...Phạm vi gây hại của chúng cũng khác nhau.Có loài chỉ phá lúa nhưng cũng có loài phá hại nhiều loại cây trồng.Trên cây lúa ở nước ta đã phát hiện khoảng hơn 38 loài sâu hại ,ngoài ra trên ruộng lúa cũng có khoảng 80 loài côn trùng khác nhưng chúng là loài vô hại.

          Trong quản lý dịch hại tổng hợp việc xác định được các sâu hại  chủ yếu và thứ yếu trên mỗi loại cây trồng ,ở vào những giai đoạn sinh trưởng  nhất định của cây ,cụ thể trên từng vùng sinh thái khác nhau là cơ sở quan trọng để áp dụng các biện pháp quản lý tổng hợp .

          -Thiên địch :là kẻ thù tự nhiên của sâu hại .Nhóm này bao gồm các loại côn trùng ăn thịt,côn trùng ký sinh,nhện bắt mồi,nguồn VSV và tuyến trùng gây bệnh cho sâu hại ,các loài ếch nhaí,chim sâu...Số lượng của nhóm thiên địch lớn gấp  nhiều lần so với các loài sâu hại .Trên ruộng lúa VN,các nhà khoa học đã phát hiện được 344 loài thiên địch của sâu hại  lúa,trong đó có 199 loài côn trùng ăn thịt,137 loài côn trùng ký sinh và 8 loài VSV gây bệnh cho sâu hại (P.V.Lầm-1994)

          Hệ thống quản lý tổng hợp dịch hại lúa được thiết lập dựa trên môi quan hệ qua lại giữa 3 yếu tố :cây lúa-sâu hại -thiên địch như sơ đồ sau:

                                     

Cây lúa

                   Sâu hại                            Thiên địch

          Mối quan hệ này là một hệ sinh học thống nhất mà cây lúa đóng vai trò rất quan trọng.Một mặt,cây lúa với cưong vị là yếu tố  ngoại cảnh quyết định điều kiện sinh thái tại nơi cư trú của sâu hại và thiên địch .Mặt khác,khi với cương vị là nguồn thức ăn của sâu hại thì cây lúa đã ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái sinh lý của sâu hại ,điều này cũng gây ảnh hưởng đến thiên địch.Trong mối quan hệ  này,thiên địch có vai trò hạn chế số lượng quần thể sâu hại  và nếu không có các tác động khác ảnh hưởng đến mối quan hệ  naỳ(phun thuốc...) thì các thiên địch có thể kìm hãm được số lượng sâu hại  chính ở dưới mức gây hại có ý nghĩa  kinh tế  mà không cần tiến hành các biện pháp phòng trừ .Bỡi vậy,thiên địch được coi là cốt lõi của hệ thống  quản lý tổng hợp sâu hại lúa.

          c-Yếu tố con người  trong Hệ sinh thái nông nghiệp:

          Hoạt động trồng trọt của con người trên đồng ruộng bao gồm:làm đát ,gieo trồng,chăm sóc ,thu hoach... ít nhiều đều có ảnh hưởng đến các yếu tố  trong Hệ sinh thái .Có những hoạt động mang tính tích cực theo hướng có lợi cho con người  như làm đất kỹ,chọn giống tốt ,bón phân cân đối...giúp cho cây trồng khỏe mạnh và chịu đựng tốt hơn với các loại sâu bệnh  .Cũng có những hoạt động ,ngược lại làm cho cây trồng yếu và tăng sự phát triển  của sâu bệnh   như gieo sạ dày,bón phân không cân đối,phun thuốc trừ sâu làm chết thiên địch gây mất cân bằng  sinh thái  và phá vỡ mối quan hệ cây trồng -sâu hại -thiên địch...

          Như vậy sự cân bằng  tự nhiên  giữa sâu hại -thiên địch thường bị phá vỡ do tác động của con người .Để đảm bảo cho sự bền vững của mối quan hệ  giữa cây trồng -sâu hại -thiên địch chúng ta

cần phải dùng các nguyên lý sinh thái học làm kim chỉ nam cho việc quản lý  sâu bệnh  hại lúa;phải quan tâm hơn tới các thiên địch nhằm làm tăng tỷ lệ gây chết tự nhiên cho sâu hại  và cần hiểu rằng chúng ta không thể và không cần tiêu diệt hết tất cả các sâu hại  lúa trên đồng ruộng

                III-CÁC BIỆN PHÁP  TRONG HỆ THỐNG  QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP (QLDHTH):

                Mục đich cuối cùng của QLDHTH là tìm ra những biện pháp có hiệu quả,có lợi về mặt kinh tế  nhằm hạn chế tác hại của sâu bệnh  ,làm cho cây trồng đạt năng suất cao và phẩm chất nông sản tốt.Trên ý nghĩa đó,QLDHTH không chỉ nhằm tiêu diệtnguồn sâu bệnh  mà muốn điều hoà các mối cân bằng trong Hệ sinh thái .Như vậy,QLDHTH phải được giải quyết trên tinh thần:tổng hợp,toàn diện và chủ động.Nghĩa là phải áp dụng nhiều biện pháp khác nhau trong một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lý.Trong hệ thống đó ,các biện pháp bổ sung cho nhau,phát huy kết quả lẫn nhau,tạo nên những  tác động và sức mạnh tổng hợp phát huy đến mức cao nhất các đặc điểm có ích của cây trồng ,loại trừ tác hại của sâu bệnh  .Tuy nhiên khi xây dựng chương trình QLDHTH cho cây trồng  ,áp dụng ở một vùng  sản xuất  nhất định,phải tuỳ thuộc vào các đặc điểm về môi trường ,thời tiết ,khí hậu,tình hình dịch hại ,trình độ nhận thức và khả năng kinh tế  của nông dân...để lựa chọ các biện pháp  thích hợp.

                1-Biện pháp kiểm dịch và khử trùng:

                a-Kiểm dịch thực vật: là biện pháp  ngăn ngừa sự xâm nhập của sâu bệnh mới và cỏ dại từ nước ngoài vào trong nước hoặc lây lan giữa các vùng trong nước.Đây là công việc hết sức quan trọng của mỗi quốc gia và được thể hiện bằng văn bản pháp luật.Thông thường khi các loại sâu bệnh   hại xâm nhập đến những  vùng lãnh thổ mới ,nếu gặp điều kiện  khí hậu thích hợp,chúng sẽ phát triển mạnh mẽ vì không gập sự khống chế của các loài thiên địch nơi bản địa.Các loại cỏ dại  cũng phát triển  nhanh vì không có côn trùng  gây hại hoặc VSV gây bệnh khống chế.Sự xâm nhập của ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata) vào nước ta trong thời gian qua là một ví dụ.

                Theo qui định ,tất cả các nguyên liệu thực vật khi nhập nội không được mang theo sâu bệnh  .Những nông phẩm có nguồn gốc từ các vùng có đối tượng KDTV bị kiểm tra chặt và thường không được nhập.Các loại  cây có khả năng trở thành cỏ dại  cũng bị cấm.ở VN .có 63 loại sâu bệnh  ,cỏ dại được xếp vào đối tượng kiểm dịch thực vật.

                b-Khử trùng:  khử trùng các vật liệu làm giống(hạt,hom,củ...)bị nhiễm sâu bệnh  trước khi đem trồng cũng là một biện pháp  để ngăn ngừa sâu bệnh   lan rộng trên đồng ruộng,giảm được chi phí phòng trừ  trong  sản xuất .Việc khử trùng thường được tiến hành với các thuốc diệt nấm,thuốc xông hơi diệt sâu bọ,xử lý nước nóng,xử lý nhiệt,dùng tia phóng xạ...

                Làm sạch hạt giống bị lẫn cỏ dại  cũng là biện pháp  ngăn ngừa tác hại của cỏ dại  trên đồng ruộng

                2-Biện pháp  cơ giới:

                Đây là biện pháp  đơn giản,dễ thực hiện và đã được áp dụng từ lâu đời. Nguyên lý của biện pháp  này là dùng tay bắt giết sâu bọ,ngắt bỏ lá thân bị bệnh,thu lượm ổ trứng...Biện pháp này đã được áp dụng phổ biến ở miền bắc VN trước đây như những  chiến dịch thu lượm ổ trứng sâu  đục thân,ngắt lá bệnh.Gần đây là chiến dịch thu lượm ốc bươu vàng  trên toàn quốc.Ưu điểm của biện pháp  này là đơn giản,rẻ tiền và tận dụng được nhân công nhàn rỗi.Song nó cũng bộc lộ khuyết điểm là có tác động chậm và hiệu quả thấp.

                3- Biện pháp canh tác :

                Đây là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong hệ thống QLDHTH  đối với bất kỳ một loại cây trồng  nào.Các  kỹ thuật  trong biện pháp  canh tác  nhằm cải thiện điều kiện sinh thái  theo hướng có lợi cho sự sinh trưởng  cảu cây trồng  để đạt năng suất  cao ,hạn chế được sự phát triển  của sâu bệnh  và tăng khả năng đền bù của cây trồng  đối với các mất  mát do sâu bệnh   hoặc tác nhân khác gây ra.Ưu điểm của biện pháp  này là chi phí thấp,dễ áp dụng trong  sản xuất ,không gây ảnh hưởng đến môi trường ,và phát huy  được  hiệu quả ngay từ đầu.Đây là biện pháp  chủ lực của các nhà Nông nghiệp Hữu cơ  trong xu hướng bảo tồn sự đa dạng sinh học của nề nông nghiệp sinh thái  bền vững.

   a-Làm đất và vệ sinh đồng ruộng: làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng rất có ý nghĩa để diệt trừ mầm mống sâu bệnh   trong đất và trên tàn dư cây trồng .Cày lật đất sớm có thể diệt được nhiều sâu non  và nhộng đục thân,sâu keo trong gốc rạ.Vệ sinh đồng ruộng ,dọn sạch tàn dư cây trồng có nghĩa là làm mất nơi cư trú của các loại  rầy và tiêu diệt hạch nấm bệnh khô vằn...là mầm mống sâu bệnh  trung chuyển sang gây hại vụ lúa tiếp theo.Nguyên lý  tác động  của biện pháp  vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng  sau mỗi vụ là để cắt đứt vòng chu chuyển của sâu bệnh   từ vụ này sang vụ khác,hạn chế nguồn sâu bệnh   tích luỹ và lây lan ngay từ đầu vụ gieo trồng.

Quan điểm IPM cho rằng không nên "sơn bờ" mà chỉ phát quang bờ ruộng,vì đó là nơi  trú ngụ cuả thiên địch sau vụ thu hoạch và sẽ là nguồn cung cấp thiên địch cho ruộng lúa ngay từ đầu vụ.

b-Luân canh: gieo trồng luân canh các loại  cây trồng  khác nhau trên một cánh đồng là biện pháp  rất có  hiệu quả  để hạn chế sâu bệnh   và cỏ dại ."Rau nào sâu nấy",phần lớn các loại  sâu bệnh   trên lúa không  gây hại  cho cây trồng  khác và ngược lại.Chưa kể một số loại cây trồng  còn tiết ra chất kích thích sự phát triển  của cây trồng  và hạn chế  sâu bệnh  ở vụ sau .Vì vậy việc luân canh giữa lúa và cây trồng  khác (lúa-màu-lúa hoặc màu-lúa-màu) là phương thưc canh tác  có lợi để phòng trừ  sâu bệnh  .Nguyên lý của biện pháp  naỳ là catư đứt mối quan hệ  chuyên tính giữa các sinh vật   gây hại  và cây chủ của chúng,hạn chế sự phát triển  của các loại   gây hại .

c-Thời vụ gieo sạ thích hợp: là thời vụ đảm bảo cho cây trồng  sinh trưởng , phát triển  tốt ,đạt năng suất  cao,tránh được các ruỉ ro về thời tiết khí hậu như mưa bão,ngập lụt,khô hạn,gió rét ,sương muối...Xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa trên  đặc điểm phát sinh phá hại của sâu bệnh   quan trọng ở địa phương,bảo đảm cho cây trồng  tránh khỏi dịch bệnh làm tổn thất sản lượng.Gieo sạ đồng loạt  tập trung để tránh tình trạng sâu bệnh   dồn vào đầu và cuối vụ (Bọ trĩ,bọ xít dài,đục thân ),ngoài ra còn  để rút ngắn thời gian một vụ lúa tránh sâu bệnh   có thời gian phát sinh và tích luỹ trong nhiều thế hệ.

d-Gieo sạ giống chống chịu sâu bệnh  : là biện pháp  quan trọng nhàm chủ động  ngăn ngừa tác hại của sâu bệnh   .Ngày nay bằng  kỹ thuật  hện đại người ta đã tạo ra được những giống kháng Rầy nâu ,đạo ôn,bạc lá...giúp nông dân tiết kiệm đươcj chi phí phòng trừ  rất lớn.Vì vậy sử dụng  giống chống chiu sâu bệnh   là một biện pháp  quan trọng vì  nó phù hợp với những nguyên lý và mục tiêu cuat quản lý  dịch hại  tổng hợp  như:

   -Dễ áp dụng trong các điều kiện ,hoàn cảnh và trình độ  sản xuất  khác nhau.

   -Chi phí thấp nên nông dân dễ chấp nhận.

   -Giảm sử dụng  thuốc BVTV  để phòng trừ  sâu bệnh  ,chi phí  sản xuất  thấp.

   -Tránh ô nhiễm môi trường  , bảo vệ được thiên địch.

   -Giúp được cân bằng  Hệ sinh thái ,góp phần xây dựng hệ thống  nông nghiệp bền vững.

   Thông thường sau môt thời giancác giống mất đi tính kháng sâu bệnh  do sự tiến hoá cuat các nòi sâu bệnh  .Để ngăn ngừa tình trạng này  người ta khuyên cáo nên đa gien hoá trên đồng ruộng,nghĩa là trên một cáng đồng nên trồng nhiều loại  giống mang các gien kháng khác nhau để khi một giống bị nhiễm sẽ không có khả năng lây lan sang các giống khác và như vậy nguồn sâu bệnh   sẽ không được lây lan.

                Hỗn hợp giống trên một ruộng cũng là hình thức đa gien hoá để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh.Về cơ sở khoa học .phương pháp này rất có  hiệu quả  song cũng đòi hỏi các yêu cầu khắt khe như các giống hỗn hợp nhau phải :cùng kểu hình(cao cây,dạng lá...) cùng thời gian sinh trưởng  ,cùng đặc tính hạt.

                Tóm lại,giống chống chiu sâu bệnh   là một vũ khí trong PTTH trước hết phải hiểu rõ những tính năng tác dụng của vũ khí đó,cũng như các mặt hạn chế của nó,đồng thời phải biết kết hợp với các loại  vũ khí khác có trong tay như biện pháp  canh tác ,biện pháp  sinh học,biện pháp  hoá học ...một cách hài hoà thì mới mong phát huy hết tác dụng vủa nó trong  bảo vệ  cây trồng (N.C.Thuật-1986).

                e-Mật độ gieo sạ: mỗi giống cây trồng  dều có một  mật độ  khoảng cách hợp lý để đạt năng suất  cao.Mật độ này phụ thuộc vào độ phì của đất ,khả năng đẻ nhánh của giống và điều kiện  thời tiết. mật độ cây trồng  liên quan chặt chẽ đến dinh dưỡng đất,tiểu khí hậu đồng ruộng và tình hình sâu bệnh   hại.

                Sạ thưa dễ bị cỏ dại  lấn át nhưng sạ dáy quá lại tạo môi trường  thuận lợi (nơi cư trú,ôn ẩm độ ...)cho sâu bệnh   phát triển  như Rầy nâu hay khô vằn).

                Tóm lại gieo trồng dày hay thưa ,sạ  mật độ  bao nhiêu là hợp lý,phải được cân nhắc lựa chọn tuỳ theo từng điều kiện  cụ thể về đất đai , phân bón ,giống cây trồng ,mùa vụ và tình hình sâu bệnh  ,cỏ dại  ở địa phương.

                f-Bón phân cân đối hợp lý:  phân bón  có ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng  và thông qua cây trồng  có ảnh hưởng đến sự phát sinh  gây hại  của nhiều loại  sâu bệnh  .Phân bón là thành phần dinh dưỡng không thể thiếu giúp cây trồng  phát triển  tốt.Tuy nhiên,bón nhiều phân hoặc bón không hợp lý sẽ làm cây phát triển  không bình thường và dễ bị sâu bệnh   phá hại .Ruộng lúa bón nhiều phân dễ bị lốp đổ,hấp dẫn các loại  sâu cuốn lá,sâu keo  gây hại  và thường các bệnh Đạo ôn,kho vằn  phá hại mạnh.Bón phân không cân đối hoặc không đúng giai đoạn sinh trưởng  của cây trồng  cũng gây ra những hiện tượng tương tự.

                Mỗi loại  cây trồng  có yêu cầu khác nhau vè tỷ lệ NPK.Bón nhiều N mà thiếu P,K cũng dễ làm cây bị bệnh.Phân chuồng và các loại  phân vi lượng có tác dụng giúp cây sinh trưởng  khỏe ,tăng tính chống chịu sâu bệnh   hại.Mỗi giai đoain sinh trưởng  của cây trồng  có những nhu cầu khác nhau về dinh dưỡng.Lúa ở giai đoạn đẻ nhánh cần nhiều dinh dưỡng hơn nên tập trung  bón theo ngyen tắc nặng đầu nhẹ đuôi và bón lần cuối phải trùng vào thời kỳ Tượng khối sơ khởi của cây lúa.Lân và pháan chuồng nên bón lót vì là loại khó tiêu.Kali nên chia bón hai lần vào giai đoạn đẻ nhánh và tượng khối sơ khởi,để giúp cứng cây và chống chịu sâu bệnh  và là nguồn vận chuyển ding dưỡng nuôi  hạt khi lúa trỗ,làm hạt lúa chắc và sáng hơn,nên năng suất  cao hơn.

                Tóm lại, phân bón là một nhu cầu cần thiết cho cây trồng ,không những để làm tăng năng suất đạt  hiệu quả  kinh tế  cao mà việc sử dụng   phân bón  hợp lý còn hạn chế được sâu bệnh   hại,giảm việv dùng thuốc BVTV  trên đồng ruộng.Vì vậy sử dụng   phân bón  cân đối hợp lý là một nội dung không thể thiếu trong chương trình QLDHTH cây trồng .

                g-Chế độ nước: Nước là môt môi trường  sống của cây trồng ,đăc biệt là cây lúa,nước là thành phần cấu tạo trong các cơ quan cây trồng ,là môi trường  mà các phản ứng sinh hoá diễn ra trong thân cây,như quá trình quang hợp,hô hấp của cây.Trên ruộng lúa , nước giúp cây lúa sinh trưởng  và điều tiết  tiểu khí hậu ruộng lúa nên có liên quan chặt chẽ đến sự phát sinh   gây hại  của sâu bệnh   hại .

                Mỗi giai đoạn cây trồng  có nhu cầu nước khác nhau.Sau giai đoạn lúa đẻ rộ nên rút nước để hạn chế sự đẻ nhánh và giúp rễ đâm sâu để tăng tính chống đổ ngã.Giai đoạn lúa ôm đòng rất cần nước và khi lúa chín sáp nên rút nước để tránh tình trạng lúa sinh trưởng  kéo dài.

                Khi có bệnh khô vằn không nên giữ mực nước cao vì hạch nấm sẽ dễ dàng tấn công phần ngọn lúa.Nhưng nếu bị bệnh Đạo ôn thì nên giữ nước để điều tiết nhiệt độ tiểu khí hậu ruộng lúa nà nếu ruộng khô lúa sẽ hút dạng đạm tự do trong đất làm cho bệnh Đạo ôn càng nặng thêm.

                Nói chung nước là một nhu cầu không thể thiếu của cây trồng ,cung cấp nước theo đúng yêu cầu sinh trưởng  của cây và tuỳ từng điều kiện  cụ thể của sâu bệnh  hại là một phương phàp quan trọng trong vịec quản lý  tổng hợp dịch hại .

                4-Biện pháp sinh học:

                Tổ chức đấu tranh sinh học quốc tế đã định nghĩa:"Biện pháp sinh học là việc sử dụng những sinh vật  hay các sản phẩm hoạt động sống của chúng nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt tác hại do các sinh vật hại gây ra"(IOBC-1971).

                Như vậy biện pháp  sinh học là  hoạt động của con người  nhằm sử dụng  các sinh vật  sống hoặc các tác nhân sinh học  để phòng trừ  dịch hại .Nó cũng bao gồm việc  bảo vệ và tăng cường  hoạt động  của các loại  thiên địch trong tự nhiên .Do đó trong biện pháp  sinh học bao gồm các  hoạt động  sau:

                a-Bảo vệ và tăng cường  hoạt động  của thiên địch sẵn có: hoạt động  này bao gồm những nội dung:

                -Bảo vệ thiên địch tránh bị độc hại do hoá chất BVTV   bằng cách hạn chế tối đa việc phun thuốc,chỉ sử dụng  thuốc có tính độc thấp,thuốc có nguồn gốc sinh học (BT,NPV...)tiến đến không sử dụng  thuốc trừ sâu  trên đồng ruộng.

                -Tạo nơi cư trú cho thiên địch:để cỏ và trồng cây họ đậu trên bờ ruộng,làm các bờ rạ cho thiên địch ẩn nấp.

                -Các  kỹ thuật  canh tác  giúp duy trì và phát triển thiên địch:luôn giữ mực nước ruộng,gieo sạ  mật độ  thích hợp,biện pháp  hợp lý...

                b-Nhập nội các thiên địch mới:  hoạt động  này thường được sử dụng  trong những trường hợp sâu hại từ bwn ngoài du nhập vào,chưa có các thiên địch đủ sức khống chế ở trong nước.ở VN người ta đang tìm cách nhập nội thiên địch của ốc bươu vàng  từ Nam mỹ vì ốc bươu vàng  được đưa vào VN với mục đích thương mại,không được  kiểm dịch nên trong thời gian qua đã  gây hại  mạnh do không có thiên địch của ốc bươu vàng  ở trong nước.ở Miền nam trước đay ,quân đội Mỹ đã đưa vào một số loại  cỏ (Cỏ mỹ,Mắc cỡ mỹ...)để  bảo vệ  khu quân sự  và sau đó chúng ta phải nhập loại  sâu ăn cỏ này vì chúng đã  gây hại  mạnh ở miền nam.

                c-Nuôi nhân và lây thả thiên địch trên ruộng: kỹ thuật  này được  áp dụng với các loại  ký sinh chuyên tính hẹp.Khi được  thả trên ruộng,ký sinh sẽ tìm đên vật chủ ưa thích của chúng  để tiêu diệt .Việc lây thả được  tiến hành nhiều lần trong vụ,vào những thời gian thích hợp để ngăn chặn sự bùng phát của sâu hại .

                Ví dụ của  kỹ thuật  này là dùng Ong mắt đỏ Trichogramma ,Ong được  nuôi nhân trong phòng thí nghiệm,rồi được  đem thả trên ruộng với một  mật độ 100.000 con /ha để trừ sâu đục thân và cuốn lá vì Ong mắt đỏ ký sinh mạnh trên trứng của hai loại  sâu trên.

                ở VN ,Ong mắt đỏ đã được  sử dụng  để trừ sâu cuốn lá lúa,sâu đo xanh hại Đay,sâu loang và sâu xanh hại Bông rất có  hiệu quả .

                d-Sử dụng các chế phẩm sinh học:phần lớn các chế phẩm sinh học có nguồn gôc  VSV như:nấm,vi khuẩn,virus,tuyến trùng và nguyên sinh động vật.

                -Các chế phẩm từ  nấm  như:Beauveria và Metarhizum đang được  thử nghiệm ở nước ta để trừ Rầy nâu ,châu chấu và một số sâu hại  khác.

                -Các chế phẩm từ vi khuẩn phổ biến nhất hiên nay là BT(Bacillus Thurigiensis) dùng để trừ sâu non bộ cánh phấn như:sâu tơ,sâu keo da láng...

                -Các chế phẩm từ virus nagỳ nay đang được  ngiuên cứu và sử dụng  trừ sâu rất có  hiệu quả ,đặc biệt là các virss nhân đa diện (NPV).Chúng được  phân lập từ kí chủ bị chết,nhân lên trong phòng thí nghiệm để tạo thành chế phẩm NPV ,có tác dụng cao để trè sâu xanh hại bông,sâu tơ bắp cái,sâu khoang,sâu keo da láng...

                -Chế phẩm từ tuyến trùng và nguyên sinh động vật cũng đang được  ngiên cứu sử dụng  như tuyến trùng Romanomermis Spp để trừ ruồi đục nõn,sâu năn và ruồi đục lá hại lúa,tuyến trùng Neoplecta Spp để trừ sâu tơ,sâu keo da láng...

 

 

               

e-Sử dụng Pheromone và Hormone điều hoà sinh trưởng  côn trùng

 

                -Pheromone là chất tiết ra từ côn trùng  và nhện  để trao đổi thông tin giữa các cá  thể  cùng loài .Phổ biên nhất là Pheromone hấp dẫn sinh dục được  tiết ra từ con cái để quyến rũ con đực đến giao phối và Pheromone hội đàn do các cá thể tiết ra để gọi nhau tìm kiếm thức ăn hoạc giao phối.

                Các hợp chất tổng hợp tương tự như Pheromone đã được  dùng trong phòng trừ  sâu hại  với mục đích:

                                .Làm bẫy dẫn dụ giết các con đực.

                                .Làm bẫy để theo dõi sự phân bố và  hoạt động  của côn trùng  trong công tác dự tính dự báo.

                -Hormone là chất điều hoà sinh trưởng  có trong cơ thể sinh vật .Cơ chế tác động của các chất điêù hoà sinh trưởng côn trùng  là làm cho trứng phát triển  không bình thường(không nở hoặc bị chết sau nở) ,sâu non không hoá thành nhộng và trưởng thành được ,một số có thể hoá trưởng thành nhưng không sinh sản được .

 

                f-Kỹ thuật diệt sinh:  kỹ thuật  này dựa trên phương pháp xử lý phóng xạ các con đực(ở giai đoạn nhộng hoặc cuối giai đoạn ấu trùng) làm chúng mất khả năng sinh sản.Các con đực đã bị diệt sinh,khi thả ra ngoài ruộng với số lượng đủ lớn,sẽ cạnh tranh với các con đực khác trong tự nhiên khi giao phối với con cái,làm trứng không được  thụ tinh và không nở được .Nguồn phóng xạ thường được  sử dụng  là Co 60 .Kỹ thuật này đã được  sử dụng  để phòng trừ  sâu hồng hại bông,sâu tơ bắp cải ,ruồi đục quả cam,các sâu mọt trong kho...Ngoài dùng nguồn phóng xạ, kỹ thuật  diệt sinh cũng có thể được  thực hiện bằng cách sử dụng  các"hoá chất diệt sinh" như: Apholate tepa,Metepa,Tetramine...các chất này được  phun lên cây với liều thích hợp,khi côn trùng  ăn vào hoặc tiếp xúc với thuốc sẽ bị mất khả năng sinh sản.

 

                5-Biên pháp hoá học :

                Đây là biện pháp  cuối cùng khi đã sử dụng  hết các biện pháp  nêu trên mà không thành công .sâu bệnh   vẫn phát triển  mạnh.Khi đó ta cần rà soát lại xemthử đã làm sai khâu nào trong các biện pháp  trên.Thông thường do bộ giống sử dụng  đã bị đổ vỡ tính kháng hoặc thời tiết không thích hợp đã kìm hãm một số thiên địch phát triển  và như vậy sâu hại  côn trùng  điều kiện  phát triển   gây hại  mạnh.

                Trong trường hợp đặc biệt phải sử dụng  thuốc BVTV  ta nên chú ý những điều sau đay:

                -Sử dụng thuốc theo ngưỡng kinh tế .Trong thưc tế khó xác định được  ngưỡng kinh tế  của một loại  sâu bệnh   hại ,song ta nên cố gắng chỉ phun khi thấy  mật độ  sâu đủ lớn và xu thế (căn cứ thời tiết ,cây trồng ,tuổi sâu) còn tăng nữa thì mới phun.Lợi ích của việc này là tiết kiệm chi phí ,giữ cân bằng  sinh học trên đồng ruộng và giảm gây ô nhiễm môi trường .

                -Sử dụng loại  thuốc tương đối an toàn với thiên địch.Nên sử dụng  thuốc có phổ tác dụng hẹp hoặc các thuốc vi sinh.Cần phải chon thời gian và phương thức xử lý ít ảnh hưởng đến thiên địch:ví dụ như việc xử lý thuốc Regent cho hạt giống để trừ bọ trĩ ,dòi đục lá ,sâu năn ...được  đánh giá tốt vì ít ảnh hưởng đến thiên địch.

                -Sử dụng thuốc theo  kỹ thuật  4 đúng: đúng thuốc , đúng nồng độ liều lượng , đúng lúc và đúng cách.

           Nói chung biện pháp  hoá học  chỉ được  sử dụng  trong trường hợp khẩn cấp khi tình hình sâu bệnh   ở mức cao và điều kiện  còn có thể bộc phát mạnuh  mà áp dụng tất cả các biện pháp  đều không kìm hãm được .Biện phấp hoá học  không được khuyến khích trong hệ thống  quản lý  dịch hại  tổng hợp  của nền  sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

                                                          CHI CỤC BẢO VỆ THỰC VẬT PHÚ YÊN

 








Trả lời: QUẢN LÝ TỔNG HỢP DỊCH HẠI CÂY TRỒNG -IPM
Mình nghĩ nông dân mình hiện nay canh tác trên một miếng đất có xíu xiu ah, như ở quê mình mỗi đám ruộng chỉ khoảng 500m2. Và trình độ dân trí của người nông dân còn thấp lắm, nên khó mà áp dụng quý trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM này được. Người này làm mà người khác không làm thì cũng không có ý nghĩa gì. Mà trên một cánh đồng nho nhỏ thôi thì có tới cả hàng trăm hộ gia đình canh tác. Thật sự là rất khó khăn để áp dụng IPM.

Hợp tác xã nông nghiệp ngày xưa thật sự là lạc hậu và đã được dẹp bỏ là đúng. Nhưng tôi vẫn mong nhà nước có chính sách mới khuyến khích nông dân tự nguyện gom đất thành lập hợp tác xã kiểu mới, tích tụ ruộng đất, có chuyên gia, có vốn, áp dụng trình độ sản xuất tiên tiến để sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao. Lúc đó áp dụng IPM thì thật là tuyệt vời, vừa có năng xuất cao vừa bảo vệ được môi trường.

Thử so sánh hiệu quả sản xuất nông nghiệp của Việt Nam với Israel thử coi (Israel: ~500tấn/ha, VN: ~ 30tấn/ha), sự cách biệt quá xa, ngoài ra họ chẳng cần nhiều lao động như mình. Đó là do họ đã áp dụng kỹ thuật cao trong sản xuất nông nghiệp. Hi vọng Việt Nam mình cũng sớm có một ngày như thế.






Trang: 1  


Trả lời nhanh

Các thảo luận cùng chuyên mục Các thảo luận cùng chuyên mục

 Tiêu đềBài cuốiTrả lờiXem
193 câu trắc nghiệm di truyền - phân tử có đáp án
by admin
4/15/2014 3:46 PM
by Noicang
43450
Đêm diệu kỳ ở vườn quốc gia Bù Gia Mập
by huuhale
4/3/2014 7:53 PM
by kiến vàng
1165
Mình upload tài liệu môn PPTN2 lên mong giúp ích được các bạn trong cả lớp nhé
by vietvuongle1984
12/12/2013 2:39 PM
by phongbatbinh
34748
Câu hỏi trắc nghiệm côn trùng đại cương
by admin
12/3/2013 2:40 PM
by lhha98
32381
Quan điểm hiện nay về cấu trúc màng
by lhha98
10/21/2013 1:24 AM
by lhha98
0529


 
 
 

khoáng trung vi lượng excelerite
Giá: 22,000 VND

XEM CHI TIẾT

Bacillus megaterium
Giá: 0 VND

XEM CHI TIẾT

Men đơn dòng
Giá: 0 VND

XEM CHI TIẾT

http://nonghoc.com/Uploads/thaitucam/thịt sấy.jpg
Giá: 650,000 VND

XEM CHI TIẾT

Xem các sản phẩm khácXem các sản phẩm khác

Thăm dò chính
Chúng tôi cung cấp tài liệu tại mục Chia sẻ tài liệu, bạn có muốn tải miễn phí không?


Các thăm dò đã lưu
Giỏ hàng

Bạn chưa bỏ gì vào giỏ hàng

Lịch sử hóa đơn

LIÊN HỆ

  lhha98    ks_bac    tran_thai

  tocdai_snow

HOA LAN BÍ KÍP

Hoa Lan Bí Kíp #66
Chiêu số 65: Nếu bạn đang tìm kiếm một loại lan trưng bày trong nhà thì cứ thử trồng cây Hồ-Điệp. Nó sinh ra để trồng trong nhà.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #55
Chiêu số 55: Hoa lan cần 50% độ ẩm hay hơn. Đặt cây lan trên một cái khay có đá cuội và nước. Đừng để nước chạm chậu cây.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #5
Chiêu số 5: Bất cứ giá thể nào cũng có thể trồng lan nếu điều khiển nước hợp lý.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #80
Chiêu số 80: Lan không ưa không khí tù hãm và ưa có sự lay chuyển không khí cho nên cần một chiếc quạt nhỏ có thể xoay chuyển được (oscillating).



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #38
Chiêu số 38: Lợi dụng sự giảm giá, hãy mua những cây lan hoa đã tàn, ta sẽ có những cây Hồ-Điệp khác nhau. Suốt năm bạn có đủ bông hoa đẹp khoe sắc.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #15
Chiêu số 15: Bạn có thể ngắm đã con mắt hoa của những cây đơn thân nếu trồng chúng chung với nhau trong một chậu lớn thay vì trồng riêng mỗi cây vào một chậu nhỏ.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #53
Chiêu số 53: Dùng lưỡi dao cạo "xài rồi bỏ" (disposable razor blades) để cắt rễ hay chia cây; sau đó bỏ đi. Tính ra chỉ có 5 cent cho mỗi cây.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #72
Chiêu số 72: Thấy cây lan èo uột vàng úa mà bón nhiều phân, tưới nhiều nước là giết cây lan mau lẹ. Đừng bao giờ bón phân khi chậu cây quá khô, cây sẽ bị khựng lại.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #60
Chiêu số 60: Khi tưới nước, đặt chậu lan trên đĩã hứng hoặc đem lại bồn rửa chén và tưới cho đến khi nước hoàn toàn chảy qua lỗ chậu.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #39
Chiêu số 39: Rễ lan được coi như buồng phổi. Chúng cũng cần không khí để thở. Giữ cho chúng đừng bị ngộp trong đất trồng.



theo hoalanvietnam.org

chợ nông sản

Hãy khám phá chức năng mới của chúng tôi: tạo gian hàng, đăng sản phẩm để rao bán trực tuyến một cách miễn phí.

Cơ hội để bạn mở rộng kinh doanh, tìm kiếm đối tác và tăng doanh số nhanh nhất.

Bạn cũng đang kinh doanh trong lĩnh vực nông sản?

Tham gia ngay

TemplateMonster's banner
TemplateMonster's banner
TemplateMonster's banner
TemplateMonster's banner
WEBSITE LIÊN KẾT