GIS VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG BAN ĐẦU TRONG CÔNG TÁC QUY HOẠCH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐBSCL

Đánh giá: 0 người đã đánh giá bài báo này.
Người viết: khachnonghoc, ngày 7/29/2013, trong mục "TIN NÔNG NGHIỆP"
Tóm tắt: GIS VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG BAN ĐẦU TRONG CÔNG TÁC QUY HOẠCH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐBSCL

GIS VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG BAN ĐẦU TRONG CÔNG TÁC QUY HOẠCH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐBSCL

Thuật ngữ GIS (Geographic Information System) được sử dụng thường xuyên trong nhiều chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau như địa lý, tin học, các hệ thống tích hợp thông tin ứng dụng trong quản lý tài nguyên, môi trường, khoa học xử lý dữ liệu không gian…

Do đó cũng có nhiều định nghĩa được đưa ra tùy đối tượng sử dụng và cách tiếp cận. Nhưng có thể hiểu một cách chung nhất: “GIS là hệ thống làm việc với loại thông tin đặc biệt: thông tin Địa lý (gồm thông tin về vị trí Địa lý và thuộc tính của đối tượng). Mỗi hệ GIS gồm các thành phần: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người và quy trình; và các chức năng: nhập dữ liệu, quản lý dữ liệu, phân tích dữ liệu, hiển thị/xuất dữ liệu.”

Một trong những chức năng nổi bật của GIS là phân tích không gian kết hợp phân tích thuộc tính để hỗ trợ cho quá trình ra quyết định. Đây là cơ sở để phân biệt GIS với các hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu thông thường khác. Ví dụ: Chồng xếp các lớp dữ liệu để giải quyết bài toán giao thông vận tải, chọn vị trí tối ưu; quản lý lưu vực sông, khu bảo tồn; đánh giá khả năng thích nghi đất đai; phân tích thị trường, dự báo lan truyền bệnh,… trên nền cơ sở dữ liệu địa lý. Kết quả phân tích không gian có thể được thể hiện thông qua các bản đồ, văn bản hoặc cả hai. Các bản đồ xây dựng trên GIS là các bản đồ mang tính động, dễ dàng cập nhật và chỉnh sửa.

Một trong những sản phẩm của công tác quy hoạch là trình bày trên không gian thực những ý tưởng của nhà quy hoạch. Những ý tưởng đó được xây dựng trên cơ sở phân tích, xem xét nhiều lớp thông tin, bao gồm cả thông tin không gian, thông tin phi không gian và các chỉ tiêu phát triển được lượng hóa. Chính vì vậy, với những ưu thế nổi bật của mình trong phân tích dữ liệu, GIS trở thành công cụ không thể thiếu của nhà quy hoạch. Trong đó, việc đánh giá khả năng đáp ứng của đất đối với việc khai thác, sử dụng cho các mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (NTTS), quy hoạch khu bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học,… gọi chung là đánh giá đất đai đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam. Theo FAO, khả năng thích nghi đất đai được phân chia ra 4 mức: rất thích nghi, thích nghi trung bình, kém thích nghi và không thích nghi.

Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ GIS trong các đề tài nghiên cứu, quy hoạch NTTS ở nước ta nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nói riêng có chậm trễ hơn, đa số chỉ dừng lại ở việc sử dụng các phần mềm GIS để thiết kế hệ thống bản đồ quy hoạch. Là số ít nhưng các kết quả nghiên cứu ứng dụng GIS trong công tác quy hoạch NTTS ban đầu này cũng đã đề xuất được những mô hình sử dụng đất bền vững cho các địa phương trong vùng, là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quy hoạch thủy sản và nông nghiệp.

Phương pháp thực hiện chủ yếu của các đề tài là kết hợp chức năng phân tích của GIS và phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn (Multi Criteria Analysis – MCA). Phân tích đa tiêu chuẩn cung cấp cho người ra quyết định các mức độ quan trọng khác nhau của các tiêu chuẩn khác nhau hay trọng số của các tiêu chuẩn này đối với đối tượng nghiên cứu. Các phương pháp xác định trọng số của các tiêu chuẩn thường được áp dụng là: Phân tích thống kê tổng hợp (Statistics Intergrated) tức tiếp cận chuyên gia thông qua phiếu điều tra, Phân tích thứ bậc (Analysic Hierarchy Process – AHP) là một mô hình toán ma trận trợ giúp việc lựa chọn đa tiêu chí. Các bước trong quá trình phân tích bao gồm: xác định các tiêu chuẩn (mỗi tiêu chuẩn tương ứng với 1 lớp dữ liệu đưa vào GIS), chuẩn hóa dữ liệu, chồng lớp và đánh giá đa tiêu chuẩn.

“Ứng dụng GIS và AHP xây dựng bản đồ thích nghi đất đai cho nuôi tôm sú tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh” do Bộ môn Thông tin Địa lý, Khoa Môi trường – Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm TPHCM và Công ty Khang Cát TPHCM thực hiện được đánh giá là có tính khả thi cao, phù hợp với tình hình thực tế địa phương. Các tiêu chí được lựa chọn làm dữ liệu đầu vào để đánh giá là: cao trình đất, pH đất, thành phần cơ giới đất, độ sâu tầng phèn, xâm nhập mặn, độ sâu ngập lũ, loại hình sử dụng đất. Kết quả đã xác định diện tích vùng thích nghi cao cho nuôi Tôm sú trên địa bàn huyện như sau: chuyên Tôm sú 14.662 ha, Tôm sú lúa: 1.857 ha, Tôm sú rừng: 3.580 ha. Tuy nhiên, kết quả này chỉ mới dựa trên sự đánh giá thích nghi theo đặc tính của đất. Việc xác định vùng thích nghi cho nuôi tôm cần đánh giá thêm các tiêu chuẩn về điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng và môi trường của vùng để có cơ sở chặt chẽ hơn trong việc hỗ trợ ra quyết định quy hoạch vùng nuôi.

Kết quả nghiên cứu “Ứng dụng GIS để hỗ trợ ra quyết định trong quy hoạch phát triển NTTS sáu tỉnh nội đồng ĐBSCL” do Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản thực hiện đã chứng minh một cách khoa học tiềm năng to lớn về phát triển NTTS nước ngọt ở 6 tỉnh hàng năm thường bị ngập lũ Hậu Giang, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Long An và thành phố Cần Thơ. Có 18 tiêu chí được chọn và được phân thành 5 nhóm, thể hiện sự ảnh hưởng đến nghề nuôi thủy sản ở những góc độ khác nhau:

-         Nhóm điều kiện tự nhiên gồm 9 lớp thông tin: hiện trạng sử dụng đất, cao độ, độ dốc, thổ nhưỡng, thời gian và độ sâu ngập nước, khoảng cách đến kênh mương, thời gian mưa.

-         Nhóm an ninh gồm 2 lớp thông tin: khoảng cách đến khu dân cư và khoảng cách đến đường giao thông

-         Nhóm kinh tế - xã hội gồm 2 lớp: mật độ dân số và kinh nghiệm nuôi

-         Nhóm dịch vụ nghề cá gồm 4 lớp: giống, khoảng cách đến trung tâm thành phố, nhà máy chế biến, dịch vụ thủy sản

-         Nhóm rủi ro gồm 2 lớp: rủi ro về bệnh dịch và rủi ro về lũ lụt

Kết quả diện tích thích nghi (thích nghi cao và thích nghi trung bình) của một số mô hình NTTS nước ngọt như sau: chuyên cá: 8.584 ha, lúa: 896.833 ha, lúa – cá: 12.008 ha, vườn cây + ao hầm: 34.245 ha, rừng tràm: 49.409 ha.

Đề tài đã đưa ra rất nhiều tiêu chí gần như bao quát tất cả các mặt ảnh hưởng đến NTTS nước ngọt vùng lũ. Song một số yếu tố quan trọng như môi trường và các vấn đề chính trị còn chưa được đề cập đến. Mặt khác, do vùng nghiên cứu rất lớn và sai số của tỷ lệ bản đồ nên khi đi vào nghiên cứu quy hoạch cho cấp tỉnh, huyện cần thiết phải có sự trợ giúp của viễn thám và các bản đồ tỷ lệ lớn hơn.

“Ứng dụng công nghệ GIS đánh giá thích nghi cho sự phát triển của nguồn lợi Nghêu vùng cửa sông, ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh” là một chuyên đề nhánh thuộc đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu (Meretrix lyrata), Sò huyết (Andara granosa) ở vùng cửa sông, ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh” do Phân viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam chủ trì thực hiện. Qúa trình xác định tiêu chí đã chọn được 8 yếu tố tự nhiên (nhiệt độ, lượng mưa, độ mặn, độ sâu, sạt lở, hàm lượng vật lơ lửng, thành phần đáy và độ dốc) có ảnh hưởng mạnh nhất đến nguồn lợi Nghêu. Trong chuyên đề này, chức năng phân tích, chồng lớp các dữ liệu được thực hiện thông qua công cụ ModelBuilder chạy trên nền của phần mềm ArcView 3.x. Công cụ mở rộng này có khả năng tạo lập và quản lý mô hình không gian, giúp cho người sử dụng dễ dàng xây dựng, chỉnh sửa, quản lý mô hình. Trong ModelBuilder, khi chúng ta nhập dữ liệu đầu vào thì các chương trình con sẽ tự động tính toán để xuất ra dữ liệu đầu ra. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp một trong những cơ sở khoa học để xác định vị trí, quy mô các khu bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu. Tuy nhiên, chuyên đề này cũng gặp phải những hạn chế tương tự như các ứng dụng đã được giới thiệu ở trên.

Những kết quả đạt được đã khẳng định khả năng ứng dụng của GIS trong công tác quy hoạch NTTS. Vì vậy, cần được đầu tư nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện về phương pháp, xây dựng thành quy trình thực hiện phục vụ mục tiêu phát triển, quản lý tài nguyên thủy sản, cũng như nghề cá nói chung.

Mặt khác, cũng cần có sự thống nhất giữa các Bộ ngành và cơ quan nghiên cứu trong việc xây dựng các bản đồ chuyên đề có liên quan nhằm khai thác có hiệu quả việc chia sẻ thông tin và tiết kiệm kinh phí điều tra, xây dựng dữ liệu.

Nguyễn Thị Xuân An, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, 12/12/2011

 

GIS và quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản

 

Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) là nghiên cứu tìm ra vùng nào phù hợp nuôi con gì, trồng cây gì để định hướng cho người dân. “Quy hoạch NTTS là việc làm rất cần thiết, cấp bách, nhưng việc triển khai quy hoạch thường không kịp với thực tế” - Câu phát biểu của thứ trưởng Bộ Thuỷ Sản Nguyễn Việt Thắng tại hội thảo quốc gia về quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản ngày 5/6/2002 tại Hà Nội xem ra vẫn đúng với hiện trạng nuôi trồng ồ ạt, tràn lan, mang tính tự phát và phá vỡ quy hoạch trong dân cư hiện nay.

Mới đây, một chuyển động trong ứng dụng CNTT nhằm cố gắng khắc phục hiện trạng này vừa được Bộ Thuỷ Sản tiến hành.

Hiện Trạng Quy Hoạch NTTS Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)

Quy hoạch kiểu “cục bộ”

Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II, TP.HCM (Viện II) nhiều năm qua đã và đang áp dụng một cách quy hoạch kiểu “cục bộ” như sau: quy hoạch một vùng, huyện hay tỉnh nào, Viện II thu thập” bản đồ GIS quy hoạch tổng thể của vùng, tỉnh, huyện ấy từ các Sở Địa Chính. Sau đó, họ cử cán bộ khảo sát về nguồn lợi thủy sản, thức ăn thuỷ sản; chất lượng nguồn nước theo các chỉ tiêu pH, DO (ôxy hoà tan), độ mặn; chỉ tiêu kim loại nặng, thuốc trừ sâu, ô nhiễm dầu... tại vùng cần quy hoạch, rồi thêm các lớp thông tin này lên bản đồ nói trên. Họ còn kết hợp với Viện Khoa Học Thuỷ Lợi Miền Nam để thêm vào lớp thôngtin về hiện trạng hệ thống thuỷ lợi, bản đồ đất, ngập nước, kinh mương...

Căn cứ vào bản đồ mới hình thành và các tiêu chí về phân vùng sinh thái đối với NTTS, chuyên gia của Viện II sẽ phân ra các vùng nuôi thích hợp với các đối tượng khác nhau: vùng chuyên tôm, vùng 1 vụ lúa 1 vụ tôm, vùng ngọt... Đồng thời,  họ cũng định hướng mô hình: nuôi tôm công nghiệp, nuôi quảng canh cải tiến...

“Quy hoạch kiểu cục bộ  này cũng mang lại một số kết quả”, Ths. Nguyễn Thanh Tùng, trưởng Phòng Môi Trường-Nguồn Lợi Thuỷ Sản Viện II cho biết. “Chẳng hạn tại Bến Tre, Kiên Giang, ngày xưa người dân trồng lúa rất bấp bênh, đến khi muốn nuôi tôm không xác định được thời điểm, địa điểm nên thực hiện. Thông qua công tác quy hoạch của Viện II, định hình phân bố mới thể hiện rõ. Nhờ đó người dân khi chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm rất ít bị rủi ro.”

Đến nay, Viện II đã thực hiện bản đồ NTTS một số huyện tại các tỉnh Kiên Giang, Vũng Tàu Bà Rịa, Bến Tre.

Công nghệ áp dụng thực hiện các bản đồ này không quá phức tạp. Bản đồ sẵn có, các lớp thông tin chồng lên thêm được thực hiện bằng chương trình MapInfo, ArcView. Ngoài ra, những số liệu điều tra mang tính xã hội như: số lượng nông hộ đang NTTS, các ngư trường, ngư cụ hiện có... được xử lý bằng phần mềm SPSS (Statistics Package for Social Science-xử lý số liệu thống kê mang tính xã hội) rất phổ biến trong ngành thuỷ sản.

Các ý kiến lo ngại

“Tuy nhiên về lâu về dài, không thể áp dụng mãi cách này”, ông Tùng trầm ngâm lo ngại. “Hệ thống bản đồ quy hoạch NTTS cứ được “cóp nhặt” theo kiểu thủ công không thể đáp ứng nhu cầu cập nhật diễn biến đất và nước của vùng, từ đó, người làm khoa học không tư vấn kịp cho người dân về thay đổi của môi trường nuôi trồng”.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, trưởng Phòng Thông Tin Khoa Học của Viện II nói: những việc làm kể trên chưa đủ ý nghĩa của công tác quy hoạch! Ông lý giải: quy hoạch cần dựa vào các nghiên cứu toàn diện về điều kiện tự nhiên: thông tin khí hậu, đất đai, thành phần cơ giới, độ dốc, khả năng xói mòn, khả năng xâm nhập mặn, chất lượng nước... và các điều kiện sinh lý của cây trồng, vật nuôi. Các yếu tố này được xây dựng trên hệ thống bản đồ chuyên biệt thông qua các hệ liệu: điều tra, viễn thám. Có thể dùng GIS để thực hiện các bản đồ này ở những tỉ lệ khác nhau.

Hệ thống bản đồ để lên kế hoạch NTTS trong tương lai của cả vùng và phải làm trước khi người dân trong vùng chuyển đổi cây trồng, vật nuôi hay đầu tư NTTS. Còn hiện nay, quy hoạch chỉ toàn đi sau và dựa trên những bản đồ không được cập nhật, dẫn đến việc người dân hoàn toàn tự phát khi chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm, nghêu, cá...; vùng này bắt chước vùng kia nuôi trồng dù rằng điều kiện môi trường, thổ nhưỡng không phù hợp, thiệt hại rất nhiều.

Ông Hùng dẫn chứng: Năm 1994, khi bệnh tôm bùng nổ, Viện II có thực hiện nghiên cứu “Nguyên nhân gây chết tôm nuôi và cách khắc phục”. Ûớc tính thiệt hại khoảng 400 tỉ đồng, nguyên nhân do môi trường, con giống, cách quản lý. Nhưng nguyên nhân lớn nhất là do vùng nuôi tôm không có đê bao, kênh thoát và kênh cấp hoà lẫn vào nhau, làm cho nước thoát của nhà có tôm bệnh “chui” vào nhà khác và cứ thế lan ra cả vùng. Hệ thống đê bao đó chỉ có thể nhìn thấy qua quy hoạch từ trước, trong khi các tỉnh chỉ biết phát triển vùng tôm mà không quan tâm đến quy hoạch.“Vậy mà từ đó đến nay, quy hoạch NTTS vẫn dẫm chân tại chỗ, chưa được xem trọng, trong khi diện tích nuôi tôm cả nước đang tiếp tục phát triển, hiện đã là 4000 hecta”- ông Hùng kết luận.

Chuyển Biến Tích Cực Từ Bộ Thuỷ Sản

Từ những thực tế trên, Bộ Thuỷ Sản thấy rằng để phát triển NTTS bền vững cần có đầu tư về công nghệ phục vụ công tác quy hoạch. Chính vì vậy, vừa qua Bộ Thủy Sản đã duyệt đề tài "Ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám cho quản lý nghề cá"  do ông Nguyễn Mạnh Hùng, Viện II  làm chủ nhiệm. Kinh phí dự án xấp xỉ 1 tỷ đồng và có thể tăng thêm trong tương lai. Trong năm 2003 Bộ sẽ cấp 450 triệu đồng chủ yếu để mua sắm máy móc thiết bị. Mục tiêu dự án là dựng lại bản đồ hiện trạng NTTS vùng ĐBSCL ở các tỷ lệ 1/250.000, 1/100.000, 1/25.000.

Còn rất nhiều việc phải làm song song với dự án như tăng cường nhân sự, đào tạo sử dụng tin học cho cán bộ thuỷ sản, nhất là phương pháp vẽ bản đồ...

Ngoài ra, các ứng dụng khác của GIS như nghiên cứu biến động của ngư trường, nghiên cứu tác động của tàu thuyền đánh bắt với nguồn cá địa phương... cũng cần được quan tâm.

Ngọc Khánh, PCW-B, 7/2003

http://www.pcworld.com.vn/articles/quan-ly/chuyen-muc/2004/01/1185714/gis-va-quy-hoach-nuoi-trong-thuy-san/

 

CHƯƠNG 8 CÔNG TÁC KẾ HOẠCH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Kế hoạch hóa là chức năng quan trọng của công tác quản lý kinh tế nói chung và quản trị doanh nghiệp nói riêng. CHƯƠNG 8 CÔNG TÁC KẾ HOẠCH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NUÔI TRỒNG THỦY SẢN I. Ý NGHĨA VÀ NGUYÊN TẮC CỦA CÔNG TÁC KẾ HOẠCH 1. Ý... Xem chi tiết


Chia sẻ bài báo này với bạn bè.


Ý kiến bạn đọc

Viết bình luận của bạn
Name:
E-mail:
Lời bình:
Insert Cancel


Các bài báo cùng chuyên mục Các bài báo cùng chuyên mục

Nuôi gia súc


Nuôi gia cầm


Nuôi các loại khác


Phòng và trị bệnh cho cây trồng, vật nuôi


Trồng cây ăn trái


Trồng rau đậu, hoa màu


Trồng cây lương thực


Trồng hoa, cây cảnh


Trồng cây rừng, cây công nghiệp


Cây làm thuốc, con làm thuốc

Rau hoa quả làm thuốc (Thảo dược)


Trồng các loại cây khác


Phân bón

Phân bón và cách bón phân

Nước tưới và tưới nước

Tưới nước và tiết kiệm nước tưới

Trồng trọt, chăn nuôi theo mùa


Vật tư, trang thiết bị nông nghiệp


Bảo quản, chế biến sau thu hoạch


Các chuyên đề nông nghiệp khác



































NÔNG HỌC TRÊN FACEBOOK
HÃY KẾT NỐI VỚI NÔNG HỌC
Giỏ hàng

Bạn chưa bỏ gì vào giỏ hàng

Lịch sử hóa đơn

GIÁ NÔNG SẢN
Lợn hơi
55,000/Kg
Điều hạt thô
26,000/Kg
Đường Biên Hoà (loại xuất khẩu)
21,000/Kg
Muối hạt
5,500/Kg
Muối iốt
6,000/Kg
Gà Tam Hoàng hơi
72,000/Kg
Gà Công nghiệp hơi
45,000/Kg
Thịt nạc đùi bò
220,000/Kg
Thịt bò thăn
260,000/Kg
Thịt lợn đùi
85,000/Kg
Thịt nạc
95,000/Kg
Trứng vịt
34,000/Kg
Trứng gà công nghiệp
25,000/Kg
Vừng vàng loại 1
65,000/Kg
Đậu đen loại 1
50,000/Kg

Xem giá các mặt hàng khácXem giá các mặt hàng khác

2/Bán Motor Máy Hút Bụi
by bachkhoadh
2/Sửa Máy Hút Bụi Tại Hà Nội
by bachkhoadh
1/Bán Vòi Cây Nước Nóng Lạnh
by bachkhoadh
Máy lạnh giấu trần FBA71BVMA/RZF71CV2V 3Hp/ 3 ngựa - Daikin chính hãng
by tranganhsao
Sau khi nâng mũi thì nên kiêng ăn gì ? Có cần kiêng hải sản không ?
by tqd301101
HOA LAN BÍ KÍP

Hoa Lan Bí Kíp #87
Chiêu số 87: Khi thấy cây lan èo uột vàng úa mà bón thêm phân, tưới thêm nước là sớm đưa cây lan về cõi chết.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #63
Chiêu số 66: Nếu bạn muốn khử trùng mà không dùng đến lửa thì dùng 10% thuốc tẩy giặt Chlorox (bleach) hay 3% nước Oxy già (H2O2) pha với nước.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #30
Chiêu số 30: Dùng một thìa cà-phê Epsom Salt cho mỗi gallon nước coi như phụ với Magnesium, tưới mỗi ba tháng để làm tan rã chất muối tồn đọng trong chất trồng lan.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #38
Chiêu số 38: Lợi dụng sự giảm giá, hãy mua những cây lan hoa đã tàn, ta sẽ có những cây Hồ-Điệp khác nhau. Suốt năm bạn có đủ bông hoa đẹp khoe sắc.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #67
Chiêu số 67: Cây lan có củ mầm cần một thời gian khô ráo sau khi tưới và ngược lại với những cây không có củ mầm.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #34
Chiêu số 34: Dùng lá khuynh-diệp nhỏ bỏ vào mỗi chậu cây lan Hồ-Điệp sẽ ngăn được rệp nhện (spider-mites).



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #64
Chiêu số 63: Dùng nhiều phân có hại hơn là dùng vừa đủ. Đừng tưởng bón quá nhiều phân là làm cho cây mau lớn mà là giết cây



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #80
Chiêu số 80: Lan không ưa không khí tù hãm và ưa có sự lay chuyển không khí cho nên cần một chiếc quạt nhỏ có thể xoay chuyển được (oscillating).



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #58
Chiêu số 58: Dùng xà-phòng nước hiệu Peppermint oil& castille (có bán tại cửa hàng thực phẩm) làm chất chống sâu bọ thật an toàn và hữu hiệu. Pha 1 thìa cà-phê vào 1 quart (¼ gallon hay 1 lít) nước trong bình xịt tay và xịt vào chỗ bị sâu bọ cắn cho đến khi tận diệt. Hữu hiệu nhất đối với sâu bọ thân mềm.



theo hoalanvietnam.org

Hoa Lan Bí Kíp #47
Chiêu số 47: Dùng một phần sữa một phần nước để chùi hay làm bóng lá lan. Thật kỳ diệu vì vừa không độc hại mà lại có sẵn.



theo hoalanvietnam.org

chợ nông sản

Hãy khám phá chức năng mới của chúng tôi: tạo gian hàng, đăng sản phẩm để rao bán trực tuyến một cách miễn phí.

Cơ hội để bạn mở rộng kinh doanh, tìm kiếm đối tác và tăng doanh số nhanh nhất.

Bạn cũng đang kinh doanh trong lĩnh vực nông sản?

Tham gia ngay

KỸ THUẬT THỦY SẢN

Kỹ thuật nuôi tôm



Phòng & trị bệnh


Kỹ thuật nuôi cá


Kỹ thuật nuôi các loại thủy hải sản khác


Môi trường nước


Nuôi thủy sản theo mùa


Vật tư & trang thiết bị: thuốc, hóa chất xử lý môi trường, thức ăn, dụng cụ, thiết bị


Nuôi thủy sản theo luật và tiêu chuẩn


An toàn thực phẩm thủy hải sản


Các chuyên đề khác

Video clip nông nghiệp, thủy sản
Hỏi - đáp, thảo luận
Tin tức về các kỹ thuật mới
Các cơ quan khuyến nông - ngư
Các cơ sở đào tạo & nghiên cứu
Sách, giáo trình và website

WEBSITE LIÊN KẾT