Mùa lũ năm 2011, theo Tổng cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp & PTNT), gây thiệt hại về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long rất lớn. Cụ thể, toàn vùng có 1.529km đê bao, bờ bao bị sạt, trượt. Trong đó thiệt hại nặng nhất là An Giang với 712km, Đồng Tháp 386km, Vĩnh Long 195km, Long An 160km. Nhiều kênh mương thủy lợi nội đồng bị bồi lấp. Ước tổng thiệt hại trên hàng trăm tỷ đồng.
Trên địa bàn An Giang nhiều điểm bị ngập nước, được đánh giá là năm lũ lớn mực nước dâng cao, đều ở trên mức báo động III. Như ngày 19/10/2011 ở sông Tiền tại Tân Châu với mức 4,70m, trên BĐ III 0,20m. Sông Hậu tại Châu Đốc ở mức 4,20m, trên BĐ III 0,20m và nhiều điểm khác. Nước lớn thường kèm theo sóng to, gió lớn, nước chảy xiết, là một trong những nguyên nhân gây hậu quả lớn như sạt lỡ, sụp lún, trượt đê, cuốn trôi nhiều công trình hạ tầng. Nhưng với sự quyết tâm hiệp lực của người dân cũng như lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương, Quân đội, Công an.. đã bảo vệ hàng trăm km đê bao cho hàng chục ngàn ha lúa vụ Thu Đông an toàn thắng lợi.
Bên cạnh đó cũng không thể thiếu được các phương tiện máy móc, trạm bơm điện, vật tư, vật liệu được huy động sử dụng kịp thời tại chỗ. Trong đó không thể không đề cập đến lượng cây trồng phân tán lâm nghiệp phục vụ tại chổ như cây bạch đàn, tràm, tre, keo lá tràm… Ước tính hàng triệu cây các loại phục vụ cho chống lũ vừa qua với giá trị hàng chục tỷ đồng. Cùng với hàng trăm km cây trồng phân tán đã phát huy được tác dụng ngăn cản sóng, gió, hạn chế sạt lỡ các công trình hạ tầng. Đây là những giá trị vô hình mà không thể tính toán hết được.
Mùa lũ 2011 đã qua đi, sau mùa lũ, tiếp tục tái thiết khắc phục hậu quả. Nhưng với gốc độ về những hiệu quả của đai rừng, của cây trồng phân tán lâm nghiệp để tới đây phát huy tác dụng cao hơn, thiết thực hơn với địa bàn An Giang có trên 1.000 km đê bao cho lúa 3 vụ (Theo Báo cáo nhanh của Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão và Tìm kiếm cứu nạn An Giang)
Theo tôi, chúng ta cũng cần suy nghĩ, phản ánh để cùng chia sẻ những kinh nghiệm từ thực tế, những hiểu biết có thể áp dụng cho lâu dài sau này, nếu có lặp lại những trận lũ lớn như năm 2011 thì sẽ chủ động và hạn chế phần nào đó về thiệt hại các công trình hạ tầng kênh đê bao cụm tuyến dân cư một số suy nghỉ như sau:
- Cần chú trọng công tác thiết kế các tuyến đê bao: Tùy theo tổng diên tích từng vùng để phân định cơ đê, nhất thiết phải có bố trí đất cho cơ đê tối thiệu từ 3m - 10m tùy từng loại vùng đê bao (thực tế nhiều tuyến đê bao không có cơ đê) đây là một trong các nguyên nhân hàng đầu của những điểm bị sạt, bị trượt, bị lở vừa qua.
- Xác định chọn loài cây trồng: Từ trước tới nay việc trồng cây dọc các tuyến đê bao chủ yếu là lấy bóng mát, lấy củi, gỗ, trồng cho có màu xanh cảnh quan… Chưa có đề cập tính toán đến việc trồng cây góp phần hạn chế chống sạt lở đê bao, cụm tuyến dân cư và các công trình khác, nhất là đối với địa bàn thường có mùa lũ hàng năm. Vì vậy để đáp ứng được yêu cầu chính, thì việc chọn lựa cây trồng là hết sức cần thiết và quan trọng, như phải chọn loài cây có rề cọc ăn sâu vào lòng đất, thân dẻo, phân cành đều, tán lá rộng, xanh quanh năm… để hạn chế gãy, ngã bật gốc, phát huy được tác dụng khi có sóng to gió lớn. Nghiêm cấm trồng các loài cây có bộ rễ chùm vì những loài này gió lớn là bật gốc, tạo những lổ mọi cho nước rò rỉ và phá vỡ đê bao, cản trở giao thông khi cần thiết.
- Thiết kế kỹ thuật trồng cây: Tùy theo thực tế đất, thiết kế kỹ thuật cho phù hợp, là đai rừng hay hàng cây, ở mái taly và cơ đê phải có những loài cây được bố trí phối hợp và hỗ trợ cho nhau, có tác dụng cộng hưởng để phát huy hiệu quả cao nhất khi có sóng to gió lớn, nên sử dụng những loài cây bản địa hiện có ở địa phương và những loài cây trồng mà về lâu dài không mất đất mà ngược lại nó còn giữ đất giúp cho cơ đê ngày được nâng cao hơn làm cho chân đê bao càng vững chắc, thì tới mùa lũ lại càng yên tâm.
- Vấn đề khai thác cây trồng: Cũng cần phải được quy đinh rõ ràng và phù hợp với từng công trình đê bao, vì lâu nay cây trồng đạt được mục đích sử dụng thì tổ chức, hộ gia đình tự khai thác thu hoạch nên có những tuyến đê vừa khai thác xong thì cũng là mùa lũ tới, hoặc cây trồng chưa đến tuổi khai thác thì phải chặt để nạo vét kênh mương, nếu như vậy thì cũng không thể đồng bộ trong việc bảo vệ tuyến đê bao mà nên tính toán kỹ hơn là có thể những tuyến đê bao xung yếu thì không nên khai thác cây trồng mà giữ nguyên hiện trạng và trồng bổ sung.
- Vấn đề kinh tế và giải quyết việc làm: Đây cũng là một cơ hội tăng thu nhập từ cây trồng, từ những nghiên cứu các loài tre để lựa chọn những loài tre phù hợp sau khi trồng có thể thu hoach tạo sản phẩm lập những làng nghề thủ công đan lát, tạo ra nhiều sản phẩm từ cây tre cho thị trường trong nước và xuất khẩu, hoặc là cây cà na là cây bản địa phù hợp ở vùng sông nước, thu hoạch trái có thể chế biến đưa vào thực phẩm bữa ăn hằng ngày và phục vụ khách du lịch. Trái bần, trái đước ở vùng ven biển cũng được khách du lịch ưa chuộng khi đưa vào món ăn, vậy thì trái cà na chắc chắn sẽ được ưa chuộng nếu tìm được nhiều cách chế biến.
Đẩy mạnh trồng nhiều cây phân tán lâm nghiệp hằng năm ngoài những lợi ích nói trên thì nó còn góp phần tham gia trong kế hoạch hành động chi tiết của các ngành lĩnh vực ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2020 trong khuôn khổ chương trình mục tiêu Quốc gia. Việt Nam được xem là một trong 5 Quốc gia trên thế giới chịu tác động tiêu cực của hiện tượng nóng lên toàn cầu trực tiếp đến dân sinh và sinh kế hàng ngày. hơn 2/3 dân số Việt Nam ở những vùng đất có độ cao dưới 10m so với mực nước biển và hầu hết nằm ở các vùng hạ nguồn các con sông lớn. Phải gắn liền với việc phát triển kinh tế xã hội là công việc cần được triển khai với cái nhìn viễn cảnh mang tinh khoa học, bền vững và tổng thể lâu dài. Việc đẩy mạnh trồng nhiều cây phân tán lâm nghiệp tạo nhiều mãng không gian xanh, ngoài những tính năng nói trên cũng góp phầm giảm nhẹ trong điều kiện ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu.