Tìm lối ra cho nông sản ĐBSCL?

Bài viết phân tích tình hình nông sản ĐBSCL, giá cả và các vấn đề liên quan đến sản xuất và tiêu thụ.

mía Mía

Cuối tháng 3 đầu tháng 4-2005, giá mía nguyên liệu cuối vụ ở Sóc Trăng đã lên mức kỷ lục 420đ/kg, cao gấp 2 lần so với đầu vụ. Tình trạng giá cả leo thang cũng xảy ra tương tự ở mặt hàng tôm sú khi rơi vào cuối vụ. Trong khi đó, giá cá ba sa, cá tra, trái cây lên xuống thất thường. Đây là căn bệnh trầm kha trong nhiều năm qua ở ĐBSCL, nguyên nhân chủ yếu là do vùng nguyên liệu chưa gắn kết với nhà sản xuất và thị trường...

Những yếu kém trầm kha…!

Người ta thường nói nhiều về tiềm năng trù phú của vùng đất ĐBSCL. Điều đó hoàn toàn đúng. Hằng năm vùng đất này làm ra 50% lượng lúa, 90% lượng gạo xuất khẩu, 65% lượng thủy sản và 70% lượng trái cây của cả nước. Song, nếu nhìn tổng thể đầu ra cho các sản phẩm chủ lực này vẫn còn mang tính “thời vụ bấp bênh”, chưa có một chiến lược gắn kết cụ thể giữa vùng nguyên liệu, nhà thu mua, công nghiệp chế biến... Trước tiên hãy lý giải những yếu kém của vùng đất này.

Khi tiếp cận hệ thống ở cấp độ vùng cho chúng ta thấy, sự phát triển vừa qua của ĐBSCL ở thế khá biệt lập, chưa có sự gắn kết chặt chẽ, trực tiếp với các vùng khác của đất nước và quốc tế. Mặt khác bản thân sự phát triển đã bộc lộ tính thiếu đồng bộ, không tương xứng giữa các ngành nghề, các lĩnh vực và giữa các tỉnh, thành trong nội bộ vùng. Trên thực tế, ĐBSCL chưa có một quy hoạch phát triển tổng thể và hệ thống của toàn vùng; trong đó chưa có sự nhất quán về mục tiêu, nội dung và giải pháp phát triển. Áp lực cao của hoạt động mưu sinh cho một qui mô dân số lớn trên toàn vùng (khoảng 17 triệu người) và yêu cầu chung của cả nước về an toàn lương thực, cộng với những hạn chế về nguồn lực từ kỹ thuật công nghệ, từ quản lý, nhất là hạn chế về kiến thức sinh thái học, môi trường học đã đưa nền kinh tế ĐBSCL vào phát triển nặng về chiều rộng, chạy theo số lượng nên chất lượng, hiệu quả kinh tế không cao, dẫn đến nhiều hiểm họa về môi trường. Mở rộng diện tích trồng hai vụ lúa – thậm chí ba vụ/năm ở diện rộng vùng lũ. Theo đó, đã hình thành một hệ thống đê bao gây cản lũ, làm nghiêm trọng thêm lũ. Nghiêm trọng hơn là hệ thống đê bao cố chống lũ triệt để để làm 3 vụ/năm ở nhiều khu vực ngập sâu đã gây ép lũ đồng ra sông, đẩy lũ sang các vùng khác làm nghiêm trọng thêm lũ. Tăng vụ và thâm canh tăng năng suất nuôi tôm trên một qui mô diện tích ngày càng lớn, không có những biện pháp xử lý môi trường, đã làm gia tăng lượng chất thải vào môi trường nước. Hàng chục ngàn bè cá và ao hồ trên và ven sông Hậu, sông Tiền thiếu biện pháp xử lý... đã làm ô nhiễm môi trường nước của 2 con sông này.

Từ năm 1996 đến năm 2001 giá tiêu thụ lúa gạo tại ĐBSCL liên tục giảm gây thiệt hại không nhỏ cho người trồng lúa. Gần đây, biến động của thị trường thế giới nên giá bán lúa gạo của nông dân có được cải thiện. Trong khi đó, giá máy móc, vật tư nông nghiệp luôn tăng, tạo nên mối quan hệ tỷ giá bất lợi cho người trồng lúa. Kết quả điều tra và tính toán của nhiều nghiên cứu cho thấy phần thu nhập (tiền công và lợi nhuận) của người trồng lúa trong tổng giá trị sản xuất lúa gạo giảm dần từ 58,05% năm 1993 xuống 49,9% năm 1997, và đến năm 2000-2001 chỉ còn 41%. Nhiều mặt hàng trái cây, thủy sản, gia súc, gia cầm cũng có tình trạng tương tự. Đây là thách thức lớn nhất cho sự phát triển bền vững của nông nghiệp ĐBSCL.

Quan hệ “bốn nhà” quá… lỏng lẻo !?

Mặt khác, chất lượng sản phẩm thủy sản và lúa gạo, trái cây tuy đã được nâng lên, nhưng chưa được kiểm soát, việc tăng thị phần và giá trị xuất khẩu bị ảnh hưởng. Trong nuôi trồng, chất lượng giống (nhất là tôm) kém, ô nhiễm môi trường xuất hiện đã dẫn đến tôm chết, cá chết ở một số địa phương. Chất lượng và vệ sinh thực phẩm nâng lên không đáng kể, người nuôi chỉ mới chú ý đến số lượng mà ít chú ý nhiều đến chất lượng. Tỷ lệ thủy sản xuất khẩu ở dạng chế biến sâu – giá trị gia tăng và xuất khẩu tới thị trường trực tiếp vẫn chưa cao.

Hệ thống lưu thông phân phối còn nhiều bất cập, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất với chế biến, tiêu thụ. Việc thực hiện hợp đồng kinh tế giữa doanh nghiệp xuất khẩu với nông dân đạt mức thấp và chậm so với mong muốn của tinh thần Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ về việc ký kết hợp đồng bao tiêu nông sản. Theo Sở NN&PTNT An Giang, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc các hợp đồng bao tiêu bị đình trệ là do giá lúa tăng cao, các điều kiện về lực lượng và phương tiện, cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu việc thu mua của doanh nghiệp. Đây có thể nói là nguyên nhân chính dẫn đến việc giá cả hàng hóa nông sản bấp bênh. Vào chính vụ thu hoạch thì giá mía, giá tôm, giá cá tra, ba sa ở ĐBSCL chựng lại hoặc tụt dốc thảm hại, song khi cuối vụ thì giá leo thang. Đây cũng là hệ lụy tất yếu khi các nhà thu mua chưa gắn kết với nông dân vùng tạo ra nguyên liệu. Nhiều khi xảy ra tranh chấp thu mua nguyên liệu ở thời điểm khan hiếm gay gắt – như thu mua mía hiện nay. Nông dân luôn “chạy theo đuôi thị trường”: cây – con gì có giá thì ồ ạt phát triển, kết quả năm sau rơi vào “khủng hoảng thừa” giá lại rớt.

Phát triển kinh tế theo hướng sinh thái, tương thích với thị trường

Tại Hội thảo “Vì sự phát triển ĐBSCL” được tổ chức tại Cần Thơ hồi cuối năm 2004, nhiều nhà khoa học đã chỉ ra rằng: Trước nhất, ĐBSCL cần có giải pháp quy hoạch hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với phát triển hệ thống công nghệ sau thu hoạch, phối hợp tối ưu các khâu từ sản xuất – mua gom – chế biến – tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ. Thực hiện đa dạng hóa, mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, tăng cường công tác dự báo thị trường. Xây dựng trung tâm thông tin, kiểm tra chất lượng... Đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với các mặt hàng nông sản chủ lực. Nghiên cứu và tìm cơ hội liên kết kinh doanh quốc tế với các doanh nghiệp của các nước có cùng sản phẩm cạnh tranh để nâng cao sức cạnh tranh và phát triển thị trường. Đồng thời, có chiến lược phát triển thị trường nội địa với kênh phân phối bài bản.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, cần điều chỉnh chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế theo hướng hợp sinh thái, công nghệ cao và tương thích với thị trường. Điều này hoàn toàn hợp lý với bối cảnh hiện nay. Sau tình trạng tôm sú bơm chích tạp chất tràn lan, dư lượng kháng sinh còn nhiều, nay lại đến mặt hàng cá tra, cá ba sa gặp khó khăn do người nuôi cá sử dụng các hóa chất cấm. Ông Hồ Quốc Lực, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần thực phẩm Sao Ta Sóc Trăng), Chủ tịch Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng: Sự quản lý lỏng lẻo về chất lượng tôm nguyên liệu và việc chậm trễ của cơ quan chức năng trong việc đánh số vùng nuôi để làm cơ sở truy xuất nguồn gốc sản phẩm là một khó khăn. Cái khó này làm giảm uy tín chất lượng sản phẩm và giảm sức cạnh tranh, thuyết phục với người tiêu dùng. Theo ông Lực, cơ quan chức năng phải vạch được chiến lược phát triển và các biện pháp quản lý chặt chẽ để ngư dân biết cách nuôi, tạo ra sản phẩm sạch và qui mô nuôi phù hợp từng giai đoạn không gây ứ đọng sản phẩm, các giám đốc phải đặt nặng hơn ý thức quản lý chất lượng sản phẩm, tạo uy tín thương hiệu thủy sản Việt Nam nói chung. Đồng thời, tích cực nâng cấp các điều kiện sản xuất để tăng sức cạnh tranh ở sản phẩm tinh chế. Sự chuyển biến từ “chất” sẽ là lời thuyết phục khách hàng, mở rộng thị trường. Trong khi đó, ông Ngô Phước Hậu, Tổng Giám đốc Công ty Agifish (An Giang) cho rằng: Nuôi trồng thủy sản hiện nay chưa có giải pháp đồng bộ, phát triển căn cơ. Cần có giải pháp liên kết cộng đồng nuôi cá tra, ba sa với doanh nghiệp để tìm lối ra và sự phát triển bền vững.

Nhìn toàn cục, sản xuất nông nghiệp, thủy sản phải được điều chỉnh lại và cơ cấu sản xuất phải gắn với chế biến, bảo quản và vận chuyển bằng kỹ thuật và công nghệ cao. Trước mắt là gắn vùng nguyên liệu với thị trường, gắn liên kết và hợp tác với trong và ngoài vùng. Điều quan trọng là khẳng định vai trò của kinh tế hộ gia đình, nhất là hộ gia đình nông dân nhưng phải khuyến khích tạo điều kiện để kinh tế nông hộ chuyển nhanh từ sang kinh tế hộ theo mô hình trang trại, gắn với liên kết dưới hình thức hợp tác và gắn với hệ thống các kênh thương mại dịch vụ vốn đã được hình thành và phát triển rõ nét với vai trò tích cực của “bốn nhà”. Đây là những biện pháp căn cơ nhằm tạo ra sự ổn định cho hàng hóa nông sản ĐBSCL.

Vĩnh Tường

Nguồn tin: BCT

Bài viết liên quan