Nghiên cứu sản xuất đại trà cua giống: Mở hướng mới phát triển thủy sản ĐBSCL

Khám phá nghiên cứu sản xuất cua giống tại ĐBSCL, mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản.

cua Cua

Cua, ghẹ là hai loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, được người nuôi quan tâm nhưng vấn đề con giống là trở ngại lớn nhất khi các nghiên cứu sản xuất con giống chỉ dừng lại ở thực nghiệm. Các kết quả nghiên cứu thành công do Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ thực hiện đã “cởi trói” cho nghề nuôi thủy sản nước lợ vùng ven biển...

“CỞI TRÓI” CHO NGƯỜI NUÔI

Thời gian qua, con tôm sú, mặt hàng mũi nhọn trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam, liên tục gặp nhiều khó khăn về thị trường. Một số vùng nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long không còn những mùa vụ “ăn chắc” khi nuôi tôm vì nhiều rủi ro, dịch bệnh. Theo đánh giá của các nhà khoa học ngành thủy sản, khả năng sinh tồn của cua biển rất cao, ngay cả đối với những vùng không còn nuôi được tôm sú. Bên cạnh đó, nghề nuôi cua biển lấy thịt (nuôi kết hợp với tôm, rừng...) đã được thực hiện ở nhiều nơi, lợi nhuận kinh tế cao nhưng không đòi hỏi nhiều về kỹ thuật. Tuy nhiên, người nuôi đành phải “bó tay” vì nguồn giống cua có hạn, phụ thuộc vào việc khai thác tự nhiên hoặc cua tự sinh sản trong vuông nuôi tôm ở các vùng nước lợ ven biển. Nhiều hộ ở Long An, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang... tận dụng nguồn cua khai thác từ thiên nhiên nuôi theo hình thức “vỗ béo” để từ cua ốp thành cua chắc hoặc nuôi cua lột, cua gạch nhằm tăng giá trị kinh tế.

Tiến sĩ Trần Ngọc Hải, Phó trưởng Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản - Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ, báo tin vui: “Phát triển nghề nuôi cua thịt tại các vuông nuôi thủy sản ven biển hoặc kết hợp nuôi trong các khu rừng ngập mặn là hoàn toàn khả thi. Bởi vì, con giống đã có thể sản xuất đại trà để đáp ứng nhu cầu người nuôi...”. Năm 1964, Ong Kah Sin (Malaysia) đã bắt tay vào việc nghiên cứu sản xuất giống cua biển. Ở nước ta, có nhiều công trình nghiên cứu được đưa vào ứng dụng sản xuất cua giống nhưng vẫn còn ở quy mô thực nghiệm, chưa sản xuất đại trà. Từ năm 1997, Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ mới bắt tay vào việc nghiên cứu với rất nhiều thí nghiệm tìm ra một phương thức mới có thể sản xuất cua giống đại trà. Một trong các nghiên cứu trên là thí nghiệm với ba nghiệm thức ở ba mật độ 50, 75 và 100 ấu trùng cua biển/lít trong môi trường nước xanh. Nước nuôi ấu trùng cua biển có độ mặn 30%o được pha từ nước ót có độ mặn 130%o. Tiến sĩ Trần Ngọc Hải cho biết: “Các nghiệm thức đều được thực hiện trong cùng một môi trường, điều kiện khí hậu, nhiệt độ và thức ăn... Sau 14-15 ngày ương, Megalopa (một giai đoạn của ấu trùng-PV) xuất hiện ở hầu hết các nghiệm thức. Sau 24 ngày ương, hầu hết Megalopa đều chuyển sang cua con. Kết quả cho thấy, thời gian hoàn thành chu kỳ ương ấu trùng theo phương pháp này bằng hoặc ngắn hơn so với các nghiên cứu trước đó. Kết quả từ nghiệm thức 100 con/lít là tốt nhất với tỷ lệ sống trung bình gần 10%. Hiện nay, các thí nghiệm khác cũng cho kết quả tỷ lệ sống dao động trong khoảng 2-10%. Với tỷ lệ này hoàn toàn cho phép áp dụng vào sản xuất đại trà do cua có số lượng trứng rất lớn - khoảng 1 triệu trứng mỗi con cái”.

HƯỚNG MỞ THỊ TRƯỜNG

Cua biển là hải sản quý có giá trị kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Nguồn lợi cua biển ở nước ta khá phong phú, phân bổ khắp các vùng biển, cửa sông, vùng vịnh. Cua biển ăn tạp từ động thực vật phù du đến rong tảo, các loài giáp xác, cá... với số lượng lớn thay đổi tùy kích thước. Vì vậy, cua có thể nhịn ăn nửa tháng mà không ảnh hưởng đến trọng lượng. Sản lượng khai thác tự nhiên loài thủy sản này tại Việt Nam bình quân khoảng 400 tấn/năm. Tại các tỉnh vùng châu thổ phía Bắc, cua biển được thả nuôi với năng suất khoảng 1 tấn/ha. Theo đánh giá của Bộ Thủy sản, sản phẩm cua lột là mặt hàng phổ biến có giá trị kinh tế cao, được chế biến thành sản phẩm cua tẩm bột chiên, các món ăn hấp dẫn quen thuộc đối với người tiêu dùng châu Á và có xu hướng mở rộng nhiều thị trường khác trên thế giới. Đặc biệt, mặt hàng cua biển tươi sống, đông lạnh hiện đang tiêu thụ mạnh trên thị trường. Năm 2004, sản lượng xuất khẩu cua biển của Việt Nam đạt khoảng 6.000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 25 triệu USD.

Các tỉnh ven biển thuộc khu vực ĐBSCL đều có thể phát triển nghề nuôi cua lấy thịt. Cua biển dễ nuôi, có thể thu hoạch trong thời gian 4 tháng/vụ. Người nuôi có thể thả nuôi theo nhiều hình thức bán thâm canh hoặc kết hợp tôm-cua-rừng... tùy theo điều kiện vùng nuôi. Song song với con cua, con ghẹ cũng được sản xuất giống thử nghiệm gần đây ở Trại thực nghiệm của Khoa Thủy sản với tỷ lệ sống đạt khoảng 10-20% và đang thử nghiệm nuôi ghẹ thịt tại Trại Thực nghiệm của Khoa ở Vĩnh Châu - Sóc Trăng với kết quả rất tốt.

Sự đa dạng vùng nuôi tạo thêm nguồn nguyên liệu dồi dào phát huy công suất sản xuất của các nhà máy chế biến thủy-hải sản sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập cho người nuôi. Đặc biệt là hai mặt hàng cua, ghẹ có thể nuôi kết hợp với tôm hoặc bán thâm canh sẽ mở thêm hướng phát triển mới cho ngành hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó, người nuôi cũng thoát khỏi tình trạng “độc canh” con tôm với nhiều rủi ro mà thời gian qua đã gặp phải...

NAM QUỐC

Nguồn tin: BCT

Bài viết liên quan