Bấp bênh thị trường
Ai cũng nhận định xuất khẩu gạo năm nay tiếp tục thuận lợi về giá và thị trường, nhưng theo bà Phan Thị Ánh, Giám đốc Công ty XNK Lương thực Vĩnh Long (Tổng Công ty Lương thực miền Nam), gạo Thái Lan tồn kho từ 2005 còn rất lớn sẽ chi phối giá gạo thế giới. Nếu Thái Lan muốn bán hàng thì doanh nghiệp Việt Nam khó chủ động về giá cả.
Sau khi các quốc gia châu Phi nhập khẩu một lượng gạo khá lớn năm 2005, đến giữa năm 2006 thị trường này mới có thể khởi động trở lại. Tháng giêng chỉ xuất khẩu khoảng 200.000 tấn gạo, đạt 52 triệu USD, giảm 10% so với cùng kỳ (cho dù việc giảm này có lý do giãn tiến độ giao hàng những tháng đầu năm).
Trong khi đó, diễn biến thời tiết trong nước khá bất lợi, miền Bắc khô hạn, vùng đồng bằng sông Cửu Long sau khi bị chậm thời vụ nay lại gặp nhiều sâu bệnh bộc phát, nhất là rầy nâu. Nếu không kiểm soát được tình hình rầy nâu trên lúa đông xuân thì sâu bệnh, nhất là vàng lùn do rầy nâu mang virus lây lan sang lúa hè thu sẽ làm giảm đáng kể năng suất lúa.
Như vậy kế hoạch xuất khẩu 4,5 – 5 triệu tấn khó thực hiện. Giá điều nhân sau thời kỳ tăng đột biến cuối năm 2004 đầu 2005, giờ đây, giá giảm trung bình khoảng 20% so cùng kỳ 2005, vì sản lượng điều thô thế giới tăng cao.
Tương tự là hạt cà phê. Dù giá có cải thiện đôi chút, nhưng nhìn chung mấy năm nay, hạt cà phê xuất khẩu luôn bấp bênh và ở ngưỡng thấp nhất, người trồng khó lãi cao như trước, nên khả năng đầu tư vào cây cà phê giảm mạnh. Hồ tiêu Việt Nam là số 1 thế giới, nhưng do nhu cầu ít biến động trong khi sản lượng thế giới tăng nhanh hơn nên chưa thể nói đây là mặt hàng ổn định về giá và thị trường năm 2006.
Mặt hàng nông sản tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu mấy năm qua là đồ gỗ chế biến với thị trường lớn nhất là Mỹ, nhưng đang trong tầm ngắm bị kiện như con cá tra, ba sa và con tôm sú trước đó. Nếu Hiệp hội Chế biến lâm sản Việt Nam và các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ không rút ra được bài học đắt giá từ con cá và tôm thì nguy cơ đến gần hơn.
Nhưng điển hình của tình trạng này là ngành rau quả. Theo Bộ Thương mại, thị trường xuất khẩu mặt hàng rau quả bị thu hẹp đáng lo ngại. Năm 2001 ngành rau quả xuất sang 42 nước và vùng lãnh thổ, đến nay chỉ còn khoảng 35 nước. Kim ngạch xuất khẩu rau quả những năm qua không tăng. Nguyên nhân của tình trạng trên là do yêu cầu về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của các thị trường ngày một nâng cao. Thị trường lớn nhất là Trung Quốc bị thu hẹp - do Thái Lan lấn sân.
Có thị trường, nhưng thiếu nguyên liệu
Trong khi nhiều mặt hàng nông sản gặp khó khăn thị trường thì hàng thủy sản chế biến lại diễn biến ngược lại. Do dịch cúm gia cầm lan rộng sang nhiều quốc gia, kể cả một số nước thuộc khối EU... nên nhu cầu về thủy sản - nhất là tôm sú, cá tra, ba sa - sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Vì vậy, kim ngạch xuất khẩu tháng đầu năm 2006 tăng 31,7% so với cùng kỳ, thị trường xuất khẩu khá tốt, nhiều khách hàng nước ngoài đặt hàng, nhưng do thiếu nguyên liệu nên doanh nghiệp phải từ chối.
Năm 2005 là năm khó khăn của ngành thủy sản. Đến cuối năm mới có thể đảm bảo chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu 2,5 tỷ USD. Vì vậy, việc từ chối hợp đồng vì thiếu nguyên liệu là điều đáng tiếc trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản mấy năm nay rất chật vật về thị trường - do Mỹ kiện bán phá giá 2 mặt hàng chủ lực là cá tra, ba sa và tôm sú và hàng rào kỹ thuật (dư lượng kháng sinh, hóa chất).
Các doanh nghiệp chế biến cá tra, ba sa xuất khẩu gặp khó khăn về nguyên liệu chế biến. Năm 2005 do giá cá tra, ba sa giảm mạnh, nhiều hộ nông dân thua lỗ, phải chuyển qua vật nuôi khác. Theo con số thống kê ban đầu, sản lượng cá tra, ba sa ở những tỉnh trọng điểm như Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, TP Cần Thơ giảm khoảng 20% - 30%. Vì thế nhiều doanh nghiệp phải cho công nhân nghỉ việc, nhà máy hoạt động cầm chừng.
Trong khi đó, các doanh nghiệp chế biến tôm sú lại lao đao vì giá tôm sú tăng cao và tình trạng khan hiếm nguyên liệu. Do tuân thủ lịch thời vụ, nên hiện nay tôm nguyên liệu rất khan hiếm. Khác với doanh nghiệp chế biến cá tra, ba sa, các doanh nghiệp chế biến tôm sú để không phải vi phạm hợp đồng đã nhập khẩu tôm sú từ Ấn Độ, Trung Quốc và Indonesia nhằm giải quyết tạm thời nạn thiếu nguyên liệu đầu vụ.
Do tôm sú nuôi thời gian qua bị chết khá nhiều vì nuôi quanh năm, hệ thống xử lý nước không đảm bảo, làm ô nhiễm môi trường và lây lan nguồn bệnh, nên nhiều địa phương bắt buộc phải thả nuôi tập trung theo thời vụ - như tỉnh Bến Tre… Vì vậy xảy ra tình trạng đầu vụ tôm nguyên liệu khan hiếm, giá tôm tăng cao như hiện nay, nhưng khi thu hoạch tập trung nhà máy chế biến không kịp, giá giảm mạnh. Đây cũng là nghịch lý giữa nhu cầu chế biến của nhà máy và việc nuôi tôm sao cho an toàn, giảm nguy cơ rủi ro.
Theo ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, hiệp hội đang đặt hàng với nhà khoa học sớm hoàn thiện quy trình nuôi tôm.
CÔNG PHIÊN
Nguồn tin: SGGP