Bãi nghêu Thới Thuận (Bến Tre) - Mô hình quản lý hiệu quả

Khám phá mô hình quản lý bãi nghêu Thới Thuận tại Bến Tre, nơi mọi nhân khẩu đều được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên chung.

Bãi nghêu Thới Thuận (Bến Tre) - Một mô hình quản lý hiệu quả Nghêu

Hai giờ chiều, đoàn chúng tôi gồm 6 người lên đò qua sông đến xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Trong lúc chờ đò, anh Bình – cán bộ khuyến ngư của Bến Tre - kể sơ qua về nơi chúng tôi sẽ đến thăm, đó là Hợp tác xã Rạng Đông và bãi nghêu hiệu quả nhất của tỉnh. Tất cả đều ngạc nhiên và tò mò khi anh Bình cho biết ở xã này, mọi nhân khẩu trong xã đều được nhận lương. Tôi thắc mắc, chỉ những người đi làm thì mới được nhận lương thôi chứ sao lại cả những người ở nhà cũng được hưởng lợi như người khác. Anh trả lời “Vì đây là nguồn lợi chung nên mỗi người sống ở xã này đều có quyền được hưởng một phần của nguồn lợi đó”. Nghe xong, bất giác mọi người trong đoàn chúng tôi đều dõi mắt sang bên kia sông. Một dải đất cây cối xanh rì, lấp ló những căn nhà mái bằng, chắc chắn, khang trang, khác hẳn những ngôi nhà đơn sơ, vách đất, mái lá dừa lúp xúp suốt hai bên chặng đường hơn một trăm cây số xe chúng tôi vừa đi qua. Sự khác biệt khiến chúng tôi thêm háo hức muốn thật nhanh được thấy tận mắt cái nguồn lợi đã làm một vùng quê trở lên trù phú, sung túc.

Sau khi qua đò, chúng tôi còn phải đi xe ôm thêm khoảng 2km nữa để đến Hợp tác xã thuỷ sản Rạng Đông, một mô hình quản lý điển hình ở bãi nghêu Thới Thuận. Trong cuộc trao đổi chớp nhoáng với ông phó chủ nhiệm hợp tác xã - người đã đảm nhiệm chức vụ này trong ba nhiệm kỳ liên tiếp, một lần nữa, chúng tôi lại nêu lên thắc mắc về việc mọi thành viên trong xã được hưởng phần từ nguồn lợi chung ra sao. Ông tận tình giải đáp: “Ngoài những người làm công ăn lương ra. tất cả nhân khẩu trong xã đều được hưởng một phần lợi nhuận từ sản lượng thu hoạch được”. Tranh thủ thời gian lúc triều rút, chúng tôi đi bộ ra thăm bãi nghêu của xã.

Đường đi ra bãi nghêu dài chừng một cây số, phải trèo qua mộtchiếc cầu khỉ khá dài, khoảng hai trăm mét. Đó là một loại cầu mà chúng tôi đã nghe nói nhiều những còn chưa có dịp trải nghiệm - người ta đóng hai cọc bắt chéo nhau rồi đặt các thân cây nối tiếp nhau, trông cũng chắc chắn nhưng thật ái ngại. Chúng tôi không phải đi một mình, một tốp thanh niên khoảng hơn chục người tay xách xô, rổ vừa đi vừa cười đùa râm ran, cũng gia nhập đoàn. Ông Phó chủ nhiệm HTX giải thích, họ là người trong xã đi bắt ốc chứ không phải nghêu. Hiện nay nghêu chưa đến thời kỳ thu hoạch, nên chưa cho khai thác. Sắp tới, sẽ có hai công ty đến ký hợp đồng mua nghêu. Ông nói thêm, những người này chỉ tranh thủ lúc triều rút khoảng 2 tiếng là họ có thể bắt chục cân ốc rồi. Chưa kịp hỏi tiếp thì chúng tôi đã đến nơi. Trước khi vào bãi nghêu, chúng tôi phải ghé qua một trong các chòi canh ngay gần lối vào bãi, ông phó chủ nhiệm nói một vài câu với những người trên chòi. Tất cả chúng tôi đều để dép guốc tại đó và lội chân đất vào bãi. Mải bật máy ảnh, tôi đi chậm lại và hoà cùng nhóm với những người đi bắt ốc. Tôi thấy lạ vì mỗi người đi bắt ốc đều được phát một mảnh giấy trông như vé vào cửa. Mãi sau, khi tôi nói chuyện với ông Phó chủ nhiệm thì mới biết, để được vào bắt ốc, mỗi người đều phải có tờ phiếu theo dõi đó để khi bắt xong đem lên cho đội bảo vệ cân, kiểm tra và ghi lại số liệu để sau này dễ quản lý. Những người bắt ốc phải cam kết không được bắt nghêu, nếu bảo vệ (những người trên chòi) phát hiện thấy họ bắt nghêu, họ sẽ bị phạt ngay lập tức .

Trải dài trước mắt chúng tôi là một bãi triều rộng 900 ha bao quanh bởi rừng bần, giữa mênh mông là nước và cát, chỉ thấp thoáng bóng hai chiếc tàu nhỏ. Những người đi bắt ốc giờ đã đi cách chúng tôi rất xa, không nhìn rõ mặt, chỉ thấy những bóng người nhỏ bé cúi gò xuống. Nước triều đang rút, chúng tôi đi bộ thẳng về phía biển liền 500m mà nước chỉ giữ ở mắt cá chân. Mới vài bước, tôi đã thấy cảm giác rát ở dưới chân mình như thể đang bước trên một bãi đá răm. Anh Bình nói “ Nghêu đấy em à” và anh cúi xuống, hai tay thọc vào bùn, vốc lên hơn chục con nghêu đều đặn cỡ khoảng 70-80 con/kg (trong khi cỡ thu hoạch là khoảng 60 con/kg) trắng có, tím có. Chỉ cần khoả nước và một lớp cát là có thể thấy nghêu nằm san sát, đều đặn như có bàn tay sắp xếp. Ông phó chủ nhiệm giảng giải, loại nghêu này ở miền Bắc gọi là ngao, con màu tím thường bán giá cao hơn vì thịt ngon hơn. Hiện nay, giá trung bình một kg nghêu dao động từ 18 – 20.000đ, còn cao hơn cả sò huyết. Khi đến mùa thu hoạch, các doanh nghiệp chế biến thường vào đây ký hợp đồng thu mua nghêu tại chỗ sau đó vận chuyển về nhà máy. Sản phẩm khá phổ biến hiện nay là nghêu luộc nguyên con, nghêu bỏ vỏ, nghêu một mảnh vỏ... Thường khi đã ký hợp đồng, HTX sẽ phân bổ khối lượng nghêu khai thác cho xã viên và phát cho họ thùng đựng. Chỉ cần một hai ngày thu hoạch với khoảng vài trăm xã viên là đủ khối lượng để giao cho doanh nghiệp (mỗi xã viên có thể cào 40kg nghêu trong một buổi khoảng 2h đồng hồ). Sau khi cân đối thu chi mỗi vụ, lợi nhuận sẽ được đưa vào Quỹ ăn chia xã viên. Tính riêng trong sáu tháng đầu năm, tổng sản lượng nghêu và sò khai thác đã đạt trên 626.680 kg, doanh thu đạt hơn 21 tỷ đồng. Lợi nhuận ăn chia cho xã viên cho đến hết tháng 5/2006 là 07 lần với tổng số tiền khoảng 9,6 tỷ đồng. Bình quân mỗi hộ xã viên nhận 5,8 triệu đồng, mỗi nhân khẩu là 1,35 triệu đồng. Riêng lao động của hợp tác xã (500 xã viên) có thu nhập bình quân 3.2 triệu/người.

Để khai thác nguồn tài nguyên có hiệu quả như vậy, HTX đã kết hợp nhiều biện pháp như tuyên truyền giáo dục, đào tạo, mở rộng ngành nghề, chăm lo đời sống vật chất cho cán bộ, nhân viên, xã viên và người lao động, phân chia vùng nghêu giống và nghêu thương phẩm riêng để nghêu phát triển nhanh, hạn chế thiệt hại, chăm sóc nghêu thịt hiện có đồng thời cải tạo đất nuôi, mua thêm sò giống rải nuôi, v.v... Nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác nghêu trộm hoặc các phương tiện có động cơ vào đánh bắt trên bãi, HTX đã thành lập đội bảo vệ, thậm chí có cả một tổ kiểm tra nữ (để kiểm tra những phụ nữ giấu nghêu, lấy trộm). Các tổ kiểm tra này luôn được trao đổi, tập huấn, không ngừng nâng cao chuyên môn, phù hợp mọi tình hình hoạt động khai thác. HTX còn phối hợp hoạt động với lực lượng Công an – Quân sự xã và lực lượng Biên phòng để xử lý kịp thời những vụ việc vi phạm, không ngừng củng cố hệ thống quản lý xã viên, chấn chỉnh việc điều công lao động đảm bảo công bằng hợp lý.

Chúng tôi chợt liên tưởng đến những bãi sá sùng ở tỉnh Quảng Ninh, nơi nguồn lợi trước đây rất phong phú nhưng nay đang cạn kiệt vì tình trạng khai thác bừa bãi, và thấy vô cùng thán phục cách thức người dân nơi đây quản lý nguồn lợi của họ, làm cho nguồn lợi không những không suy giảm mà còn tăng lên từng ngày, tùng vụ, góp phần ổn định cuộc sống không chỉ cho những người khai thác mà cả những người dân sống nơi có nguồn lợi. Nhờ chính sách trả lương cho những người không tham gia khai thác, HTX Rạng Đông đã nâng cao được ý thức trách nhiệm của người dân đối với việc bảo vệ nguồn lợi, huy động được nhiều người dân tham gia quản lý nguồn lợi hơn. Ông phó chủ nhiệm tâm sự: “Hầu như không có trường hợp khai thác nghêu giống hoặc khai thác trộm nghêu. Không phải chỉ vì lực lượng bảo vệ có mặt 24/24 mà còn vì quy định thưởng phạt nghiêm minh. Lượng nghêu sò mà người ta khai thác trộm được sẽ chẳng đáng bao nhiêu so với số tiền phạt và những lợi ích mà họ được hưởng từ HTX”.

Lưu luyến không muốn chia tay, nhưng đã đến giờ thuỷ triều lên, chúng tôi quay lại bến đò. Trên đường qua cây cầu khỉ, ông Phó chủ nhiệm hợp tác xã vẫn nhiệt tình kể chuyện, rằng trong thời gian tới, HTX sẽ xây dựng một cây cầu bê tông kiên cố thay cho chiếc cầu khỉ hiện nay để tạo điều kiện dễ dàng cho xã viên và người lao động đi lại khi tham gia khai thác, rằng HTX sẽ thực hiện hai dự án, một là xây dựng nhà máy cấp nước sinh hoạt công suất 650m3/ngày, tổng kinh phí hơn 3 tỷ đồng lấy từ lợi nhuận sau thuế của HTX nhằm giải quyết nhu cầu bức xúc về nước sạch, nâng cao đời sống xã viên, hai là thành lập quỹ tín dụng nội bộ huy động nguồn vốn trong xã viên để hỗ trợ một phần vốn cho xã viên sản xuất.

Nhìn những gương mặt người dân ở đây, tôi nhận thấy niềm vui, niềm hạnh phúc ngời lên trong mắt họ. Tự nhiên tôi nghĩ đến những người ngư dân ở trên khắp mọi miền đất nước, những khuôn mặt đen sạm vì nắng gió, nhàu nhĩ vì lo miếng cơm manh áo. Bao giờ họ sẽ hết nỗi lo về công ăn việc làm, về thu nhập, về nguồn lợi ngày càng giảm, hay vì phải đối phó với thiên tai, với đối thủ cạnh tranh. Rõ ràng, nguồn lợi không chỉ tập trung ở Bến Tre mà còn ở nhiều nơi khác, vậy tại sao người ngư dân ở xã Thới Thuận này lại có được sự thịnh vượng mà đa số những người ngư dân khác không có. Phải chăng vấn đề không chỉ là nguồn lợi mà là cách quản lý, làm thế nào để nguồn lợi là tài sản chung của mọi người, phục vụ lợi ích của mọi người và mọi người đều có trách nhiệm bảo vệ nó, phát triển nó ngày một dồi dào hơn.

Thanh Phương

Nguồn tin: Fistenet

Bài viết liên quan