Sản xuất không bền vững: Hệ lụy khó tránh!

Bài viết phân tích tình trạng nuôi cá tra, ba sa tại ĐBSCL và những hệ lụy từ ô nhiễm môi trường.

cá tra Cá tra

1 - Những ngày qua, người nuôi cá tra, ba sa ở nhiều địa phương vùng ĐBSCL lại mất ăn mất ngủ vì cá đột ngột phình bụng chết nổi “trắng” mặt ao. Nguyên nhân cá chết được xác định là do ô nhiễm môi trường nuôi, nông dân lạm dụng kháng sinh. Vấn đề này đã được các nhà khoa học “mổ xẻ” trong cuộc họp thông qua qui hoạch phát triển thủy sản do Bộ Thủy sản tổ chức vào tháng 9-2006. Thế nhưng, dầu đã “thấy bệnh” nhưng chưa có thuốc chữa, nên năm nay tình trạng cá chết cũng cứ “đến hẹn lại lên”.

Hiện nay, diện tích nuôi cá tra, cá ba sa toàn vùng ĐBSCL đạt gần 5.000 ha, sản lượng gần 400.000 tấn, tăng gấp 4 lần so với năm 1997, chiếm trên 98% sản lượng cá da trơn của cả nước và dẫn đầu sản lượng xuất khẩu trong các loài cá nước ngọt. Tuy nhiên, đến nay ĐBSCL vẫn chưa có một quy hoạch tổng thể phát triển vùng nuôi cá tra, ba sa. Phát triển tự phát, nuôi thâm canh liên tục trên qui mô lớn, thiếu quan tâm bảo vệ môi trường nước là nguyên nhân làm tình trạng ô nhiễm môi trường nước trầm trọng hơn.

Phó Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương, Trưởng khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ, nêu ý kiến: “Theo quy hoạch đến năm 2010 thì diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL lên đến 16.000 ha, lượng thức ăn cho cá bằng 900.000 ha nuôi tôm, lượng thức ăn dư thừa thải ra môi trường sẽ rất lớn. Hiện nay, chất lượng nguồn nước mặt ở sông Tiền và sông Hậu đang xấu đi, tình trạng cá tra nuôi bị chết ngày càng phổ biến. Việc làm cấp bách của ngành chức năng là phải nhanh chóng xem xét đến khả năng, khống chế diện tích nuôi, phân bố vùng nuôi hợp lý. Không nên vì hiệu quả kinh tế mà quên đi yếu tố bền vững. Khi cá giống tăng giá, nhiều cơ sở ương cá giống vì ham lời nên tăng cường chích kích dục tố để cá đẻ nhanh hơn, nhiều hơn. Việc hám lợi đã làm cho đàn cá tra bố mẹ bị thoái hóa, chất lượng con giống không đảm bảo. Đây cũng là cảnh báo tính không bền vững của ngành nuôi thủy sản”.

2 - Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với diện tích trồng lúa hơn 1,5 triệu ha, tổng sản lượng lúa hàng năm gần 20 triệu tấn, bằng 50% tổng sản lượng lương thực của cả nước. Ngoài 2 vụ lúa chính là đông xuân và hè thu, nông dân ở các tỉnh Hậu Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng và TP Cần Thơ làm thêm vụ lúa thu đông (còn gọi là vụ 3), với diện tích trên 300.000ha. Về mặt tích cực, lúa vụ 3 đã đóng góp một phần sản lượng lương thực, giúp nông dân có thêm chút ít thu nhập. Tuy nhiên, mặt trái của nó thì không thể lường trước. Các nhà khoa học cảnh báo: Nếu chúng ta không thực hiện các biện pháp cắt vụ, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, chuyển đổi giống... thì nguy cơ bùng phát dịch bệnh là điều khó tránh khỏi. Giáo sư - Tiến sĩ Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, băn khoăn: “Ở ĐBSCL, lúc nào chúng ta cũng thấy có lúa trên đồng mà không thể tính được mùa vụ. Việc sản xuất nhiều vụ lúa, nối tiếp nhau đã vắt kiệt dinh dưỡng của đất và trở thành môi trường tốt để dịch hại lưu tồn, gây hại cho vụ tiếp sau. Đây là kiểu sản xuất không bền vững, rủi ro cao. Người trực tiếp gánh chịu hệ quả này chính là nông dân”. Dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá đã gây hại nghiêm trọng trên các cánh đồng, càng cho thấy một khía cạnh của kiểu sản xuất không bền vững đang tồn tại.

Thủy sản và lúa gạo là 2 mũi công phá chủ lực trên bước đường thoát nghèo của nông dân ĐBSCL. Thế nhưng, nuôi trồng, chế biến thủy sản, lúa gạo mà không quan tâm đến yếu tố bền vững, môi trường bị phá hủy, dịch bệnh hoành hành thì nông dân phải lãnh trước tiên và lãnh đủ hệ quả tất yếu của nó.

PHÚ KHỞI

Nguồn tin: BCT

Bài viết liên quan