Khó khăn trong đánh giá chất lượng cá thương phẩm: Ai sẽ giúp ngư dân?

Bài viết phân tích những khó khăn mà ngư dân gặp phải trong việc đánh giá chất lượng cá thương phẩm và những giải pháp cần thiết.

cá tra Cá tra

Nhiều năm qua, ngư dân nuôi cá tra, basa thường gặp khó khăn trong việc đánh giá chất lượng cá thương phẩm. Người nuôi cùng cho rằng: Khi mức cung thấp hơn cầu, tức là lúc mà sản lượng cá ít nhưng nhu cầu thị trường cao thì việc mua bán thường diễn ra suôn sẻ, thuận lợi. Ngược lại, những khi dội chợ, “ế hàng” người nuôi cá cũng lao đao vì bị đơn vị mua tiến hành công việc kiểm tra hết sức chặt chẽ, vừa phải chờ đợi mất nhiều thời gian mà đôi khi bị “phán” không đạt yêu cầu về chất lượng. Lắm chủ nuôi ấm ức: Cũng loại cá này, phương thức nuôi không thay đổi, nhưng khi hút hàng thì bán đắt như tôm tươi, giờ gặp lúc dội hàng, thì lại viện lý do này khác để khỏi phải mua. Mà nói sao thì chúng tôi chịu vậy, chứ đâu biết gì về kết quả kiểm tra của họ.

Các công ty thì cho rằng, việc kiểm tra chất lượng cá thương phẩm là dựa trên những cơ sở khoa học, với các tiêu chuẩn đã được đăng ký rõ ràng, nên không có việc “muốn nói sao thì nói” như ngư dân suy nghĩ. Vậy thì ai đúng, ai sai ?

Nhiều năm qua, nghề nuôi thủy sản ở ĐBSCL phất lên rất mạnh, sản lượng nuôi, công suất chế biến và kim ngạch xuất khẩu tăng lên từng năm. Đến nay, sản lượng toàn vùng đã tăng lên gần 1 triệu tấn, và còn đang có những dự báo sẽ tăng tốc trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, tính chất của sự phát triển này là không ổn định và bền vững. Bởi nhiều người nuôi có thể làm giàu thì cũng có người nuôi phải trắng tay. Đó là điều làm đau đầu những nhà quản lý, nhưng nhìn chung, không ai có thể “đẽo chân cho vừa giày” khi bảo người dân đừng nuôi mới. Nhất là trong hướng tới, thị trường tiêu thụ cá tra, basa có triển vọng còn mở rộng hơn từ sự kiện gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO với những điều luật công bằng hơn.

Với những thông tin được phổ biến rộng khắp, ngày nay, hầu hết những ai có hoạt động sản xuất, kinh doanh đều nhận thức được rằng thuận lợi từ việc mở rộng thị trường sẽ đi kèm với thách thức, đó là các rào cản phi thuế quan mà trong đó quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm liên quan đến yếu tố môi trường và dư lượng các hóa chất cấm. Ai sẽ giúp nông ngư dân chúng ta về phương diện này, để đảm bảo những sản phẩm của mình làm ra không bị thị trường ngoảnh mặt, để có thể làm giàu từ con cá đặc sản của quê hương, đất nước và để nền kinh tế không chỉ tăng trưởng một cách ổn định mà còn bộc phá vươn lên với những ưu thế vượt trội của mình ?

Trên thực tế, các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng cá tra, basa phi lê xuất khẩu đã đầu tư vùng nuôi với quy mô lớn, đủ sức cung ứng cho nhà máy để đảm bảo hoạt động liên tục và ít bị động về nguồn nguyên liệu. Và, để đảm bảo cho công việc kinh doanh của mình được thuận lợi, họ đã tiến hành thuê các tổ chức chuyên môn tư vấn thực hiện phương pháp nuôi an toàn cũng như khảo sát, đánh giá và cấp giấy chứng nhận để có được giấy “thông hành” tự do trên thương trường quốc tế. Và, hiện chỉ còn lại những ngư dân đơn thuần nuôi cá để bán cho những nhà máy chế biến với hy vọng mong manh được mùa, được giá !

Ngày nay, nhiều tổ chức quốc tế đã nhìn thấy vấn đề này và đã cùng phối hợp với các tổ chức của ngành Thủy sản Việt Nam để vào cuộc. Qua đó, An Giang đã tổ chức được một số mô hình nuôi cá sạch dựa trên các tiêu chuẩn SQF, Eurep-Gap, nuôi cá tra sinh thái… và Sở Thủy sản cũng đang vận động nông ngư dân thực hiện các biện pháp nuôi an toàn trong toàn tỉnh. Mặc dù chưa thể tạo được những chuyển biến toàn diện trong một sớm, một chiều, nhưng công việc này đang tạo được mối quan tâm cho toàn thể những người nuôi và đang hướng nghề nuôi cá của An Giang và ĐBSCL theo hướng ngày càng được nâng chất để thích nghi tốt hơn với yêu cầu thị trường.

Vấn đề có lẽ sẽ trở nên đơn giản hơn, khi các tổ chức quản lý về mặt Nhà nước và các Hiệp hội Thủy sản cùng chung sức để xây dựng được một tổ chức khoa học chịu trách nhiệm về vấn đề này. Đó là một tổ chức khách quan, sẽ đứng trung gian giữa người nuôi và nhà chế biến, xuất khẩu. Họ có nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn nông ngư dân thực hiện quy trình nuôi an toàn cũng như thường xuyên lấy mẫu xét nghiệm, phân tích đánh giá và ghi nhận theo từng mốc thời điểm cần thiết. Khi phát hiện có vấn đề nào đó gây trở ngại, lập tức cùng người nuôi khắc phục ngay. Có như vậy, thì khi đến kỳ thu hoạch, vấn đề về chất lượng sẽ bớt gay go hơn, và người nuôi sẽ không phải nơm nớp lo bị đánh rớt khỏi những hợp đồng đã được ký kết với doanh nghiệp.

Khi chúng ta đã tính đến những bài toán lớn cho nền kinh tế để hội nhập một cách an toàn, thì việc đi tìm một tổ chức khoa học đủ tư cách pháp nhân và trình độ, năng lực để hỗ trợ nông dân trong việc khẳng định chất lượng, xây dựng thương hiệu cá tra, basa Việt Nam hiện là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách.

P.V

Nguồn tin: AG

Bài viết liên quan