Nuôi tôm sinh thái ở Cà Mau - Nhìn lại chặng đường 7 năm

Khám phá quy trình nuôi tôm sinh thái tại Cà Mau, những thành tựu và thách thức trong 7 năm qua.

tôm sinh thái Tôm sinh thái

Nuôi tôm sinh thái là đề tài nghiên cứu đã được Bộ Thủy sản quan tâm đặc biệt với hy vọng đưa ra quy trình nuôi để áp dụng vào sản xuất hạn chế sự ô nhiễm môi trường nước nuôi, tạo ra sản phẩm sạch, bền vững phục vụ cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Thực tế, trong 6 năm qua, hoạt động nuôi tôm sinh thái áp dụng theo mô hình giao đất, giao rừng ở Cà Mau đã thu được những kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn còn nhiều bất cập.

Xuất phát từ nhu cầu và xu hướng tiêu dùng quốc tế và trong nước đối với sản phẩm sạch- thực phẩm sinh thái nói chung và thủy sản sinh thái nói riêng, được nuôi trồng và phát triển tự nhiên, không có tác động hóa chất kháng sinh độc hại và gây ô nhiễm, đầu năm 2000 nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Thị Hồng Minh đã dẫn một đoàn các quan chức cao cấp và các thương gia EU đến thăm quan mô hình trồng rừng kết hợp nuôi tôm ở Lâm ngư trường 184 (LNT 184) ở Cà Mau (nay là Công ty Lâm nghiệp 184) và được đánh giá cao về mặt môi trường sinh thái. Sau chuyến khảo sát này, vấn đề nuôi tôm sinh thái đã được một số chuyên gia ở Châu Âu đề cập với Bộ Thủy sản để nghiên cứu, lấy vùng ngập mặn Cà Mau làm thí điểm và áp dụng thực tế ở LNT 184. Sau hơn 2 năm thăm dò lấy mẫu, kiểm nghiệm, vùng này được đánh giá là hội tụ đủ các tiêu chí sản xuất tôm sinh thái theo tiêu chuẩn quy định của các tổ chức kiểm tra chứng nhận quốc tế như Naturland của Đức, Hiệp hội Kiểm tra Thụy Sỹ (SIPPO), và các tổ chức khác của cộng đồng Châu Âu.

LNT 184 và hiệu quả kinh tế từ nuôi tôm sinh thái

Nằm trên địa phận hành chính xã Tam Giang, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, với diện tích tự nhiên 6.475ha, diện tích rừng hiện có là 3.190ha, diện tích nuôi trồng thủy sản 2.879ha, từ những năm 1997-1998, LNT 184 đã thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng cho 1.197 hộ gia đình để kết hợp trồng rừng với nuôi tôm, nhằm mục tiêu khôi phục và phát triển vốn rừng.

Sau 10 năm thực hiện phương thức trên, LNT 184 cơ bản khôi phục lại được vốn rừng, đồng thời phát triển được tính đa dạng sinh học với 44 loài hệ thực vật, trong đó có 32 loài thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn (bao gồm 18 loài chính thức và 14 loài kết hợp). Đặc biệt có một số loài rất quý hiếm như cóc trắng, sú, cây trang... Về hệ động vật LNT 184 hiện có 17 loài thuộc 6 bộ và 8 họ trong đó có 2 loài trong sách đỏ IUCN 2000 và 4 loài có trong sách đỏ của CITES (Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp). Có nhiều loài có giá trị bảo tồn như rái cá móng, voọc bạc, chồn cái mèo, khỉ đuôi dài...; hệ chim có 73 loài cá thể, đặc biệt là đàn giang sen có 40 con, có quần thể lớn hiếm có trong vùng, và có khoảng 400 con Diệc Xám...

Đặc biệt hệ thủy sản ở đây rất đa dạng, phong phú với hơn 100 loài, nhất là những loài có giá trị kinh tế cao để xuất khẩu như tôm, cua, cá bóng mú, cá lạt dây... Đây là cơ sở tạo tiền đề cho viết phát triển dư án nuôi tôm sinh thái từ năm 2000 đến nay.

Ngày 21/12/2001, LNT 184 đã được chứng nhận theo tiêu chuẩn nuôi tôm sinh thái với các tiêu chí như: có tỷ lệ rừng nhất định trên 50% diện tích rừng trong ao nuôi và vùng nuôi, không dùng kháng sinh, ý thức xã hội về bảo vệ môi trường sinh thái... Để đạt được các mục tiêu là tạo ra được sản phẩm sạch và không gây ô nhiễm môi trường, kỹ thuật nuôi không cho phép sử dụng thuốc kháng sinh để phòng trừ bệnh và hóa chất để xử lý môi trường. Thức ăn tự nhiên là nguồn thức ăn chủ yếu trong các ao, đầm nuôi tôm. Trong hệ thống nuôi sinh thái chỉ sử dụng phân hữu cơ để tạo thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Tuy nhiên có thể sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước và tạo thêm nhiều thức ăn tự nhiên trong ao nuôi tôm.

Các tiêu chí mà các tổ chức kiểm tra chứng nhận đặt ra rất nghiêm ngặt, khắt khe, nhưng LNT 184 cơ bản đáp ứng được yêu cầu vì có mô hình trồng rừng kết hợp nuôi tôm phát triển ổn định trong nhiều năm qua, con tôm cùng tồn tại và phát triển dưới tàn rừng, cân bằng được hệ sinh thái trong vùng, tuy năng suất chưa cao nhưng giá trị XK cao hơn so với tôm nuôi trong điều kiện bình thường, lại ít bị rủi ro, đảm bảo tính ổn định và phát triển bền vững.

LNT 184 đã kết hợp với Công ty Cổ phần Chế biến Thủy sản và Xuất nhập khẩu Cà Mau (CAMIMEX) tổ chức sản xuất chế biến xuất khẩu tôm sinh thái, đem lại giá trị kinh tế liên tục tăng: Năm 2002 đạt 17 tấn, trị giá 271.500 USD, năm 2003 đạt 24,5 tấn, trị giá 460.570 USD, năm 2004 đạt 134 tấn trị giá 2,32 triệu USD, năm 2005 đạt 131 tấn, trị giá 2,47 triệu USD và 10 tháng đầu năm 2006 đạt 108,8 tấn, trị giá 2,04 triệu USD.

Qua xuất khẩu và thông qua các hội chợ quốc tế, cũng như trong nước, sản phẩm tôm sinh thái được các nhà nhập khẩu cũng như người tiêu dùng các nước biết đến ngày càng nhiều, thu hút được các khách hàng khó tính như Mỹ, Nhật và các nước EU. Tuy nhiên, nguồn cung cấp tôm sinh thái của Việt Nam chưa đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu vì còn nhiều vấn đề bất cập.

Những bất cập trong nuôi và thu mua tôm sinh thái

Ông Lê Hoàng Vũ, Giám đốc công ty LN 184 cho biết, qua 8 năm nuôi tôm sinh thái, LNT 184 đã nhận thấy vẫn còn một số mặt tồn tại: sự quan tâm của Nhà nước và các ngành, các cấp chưa cao; người dân chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề bảo vệ và khôi phục vốn rừng, nhằm đáp ứng các tiêu chí nuôi tôm sinh thái, người sản xuất tôm sạch chưa tuân thủ các quy trình nuôi tôm sạch, đồng thời các nhà thu mua, chế biến cũng không có nguyên tắc chặt chẽ, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cũng như giá trị xuất khẩu của tôm sinh thái Việt Nam trên thương trường quốc tế.

Theo tiêu chí tôm sinh thái, vùng Cà Mau có khoảng 60% tôm nuôi đạt tiêu chí, song do vùng nuôi chưa được mở rộng và chưa được chứng nhận, nên nguồn cung cấp tôm sinh thái của Việt Nam không đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế.

Về phía công ty thu mua và chế biến tôm sinh thái, CAMIMEX cho biết, do việc sản xuất nuôi trồng thủy sản-thu mua tôm nguyên liệu sinh thái vẫn còn bất cập nên việc chủ động đề ra phương hướng và tìm giải pháp thực hiện, điều hành kế hoạch nói chung, cũng như việc đề xuất tháo gỡ vướng mắc trong việc quản lý công nhận hộ nuôi sinh thái và tổ chức thu mua nguyên liệu nói riêng còn trong thế lúng túng, bị động.

Việc thu mua tôm sinh thái không bao gồm nhiều kích cỡ và đa dạng về chủng loại, từ đó dẫn đến nhiều thắc mắc của hộ dân sản xuất nuôi trồng tôm sinh thái. Thực tế, sản lượng tôm các loại, các cỡ bán cho trạm thu mua thì nhiều nhưng sản lượng được ghi mua và thanh toán chênh lệch thì ít, do chỉ tính theo loại và kích cỡ theo yêu cầu mua của khách hàng.

Bên cạnh đó, nguyên tắc thanh tra của IMO quá chặt chẽ, cứng nhắc đối với các hộ còn thiếu diện tích rừng không đáng kể. Cách tính tỷ lệ diện tích rừng trong tổng diện tích nuôi, trồng theo từng hộ là không hợp lý. Sự bất đồng ý kiến của IMO, CAMIMEX và khách hàng Thụy Sỹ dẫn đến việc tạm thời ngừng thu mua tôm sinh thái, gây ảnh hưởng đến niềm tin và sản xuất nuôi trồng của hộ nuôi sinh thái, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân và thu nhập từ việc bán thương hiệu tôm sinh thái của công ty.

Và những kiến nghị nhằm đẩy mạnh sản xuất và quảng bá tôm sinh thái

Trước thực trạng đó, LNT 184 đã kiến nghị Đảng và Nhà nước cần quan tâm sâu sắc hơn nữa đến sản xuất và nuôi trồng tôm sinh thái, cần tuyên truyền vận động nhân dân có ý thức hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc mở rộng vùng nuôi tôm sinh thái, phát triển nuôi theo hướng bền vững.

Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng tiêu thụ sản phẩm sạch của quốc tế và trong nước ngày càng cao, nhằm ổn định và phát triển vùng nuôi tôm sinh thái, cần phải xây dựng thường hiệu tôm sinh thái chất lượng cao của Cà Mau, để có thể cạnh tranh trên thương trường quốc tế, cũng như thị trường trong nước.

Về phía chính phủ, CAMIMEX kiến nghị cần có chính sách ưu đãi về thuế nuôi trồng thủy sản trong vùng nuôi tôm nguyên liệu tôm sinh thái có ưu thế hiệu quả bền vững về kinh tế và bảo vệ môi trường; cần có chính sách hỗ trợ cho vay vốn để người dân san lấp kinh mương đảm bảo mặt bằng trồng rừng; có chính sách và hoạch định chiến lược về mở rộng phát triển vùng nuôi tôm sinh thái nhằm tạo môi trường và sản xuất mang tính bền vững.

Đối với vấn đề giá thu mua, CAMIMEX cho rằng cần định giá sàn thu mua tôm nguyên liệu hợp lý theo từng thời gian cụ thể, tương ứng với giá cả thu mua tôm của thị trường, để người nuôi tôm sinh thái không bị thiệt và không bị thất thoát nguồn cung cấp tôm sinh thái ra ngoài.

CAMIMEX cũng như LNT 184 rất mong VASEP có những động thái tích cực trong đàm phán với đối tác Thụy Sỹ để họ sớm nối lại chương trình thu mua-chế biến xuất khẩu tôm sinh thái và mua nhiều kích cỡ, nhiều chủng loại vì trong vùng nuôi tôm sinh thái do môi trường tốt, phần lớn tôm đạt trọng lượng 60-80 g/con mới chịu ra cống, sản lượng loại kích cỡ mới lớn nhiều, đồng thời linh hoạt hơn đối với việc đánh giá tiêu chí diện tích rừng cho các hộ nuôi.

(LH)

Nguồn tin: Vasep

Bài viết liên quan