Ngày 26-4, tại tỉnh Sóc Trăng, Bộ NN&PTNT, Tổng cục Thủy sản (TCTS) phối hợp với UBND tỉnh Sóc Trăng tổ chức Hội nghị về công tác chỉ đạo qui hoạch nuôi tôm thẻ chân trắng và chuyên đề tìm chất thay thế Trifluralin trong nuôi trồng thủy sản. Tới dự Hội nghị có Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản Vũ Văn Tám; các Phó Tổng cục trưởng TCTS Phạm Anh Tuấn, Chu Tiến Vĩnh cùng 150 đại biểu đại diện cho ngành NN&PTNT và người nuôi tôm đến từ các tỉnh trong khu vực ĐBSCL.
Báo cáo tại Hội nghị cho thấy: Tôm thẻ chân trắng có nguồn gốc từ Nam Mỹ, hiện đang được phát triển nuôi ở nhiều nước trên thế giới từ nhiều năm trước. Riêng ở Việt Nam, tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi thử nghiệm năm 2002. Sau một thời gian nuôi thử nghiệm, năm 2008, Bộ NN&PTNT mới có chủ trương cho phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng. Theo đó, với các tỉnh Nam bộ được nuôi tôm thẻ chân trắng nhưng phải có quy hoạch vùng nuôi và có hệ thống thủy lợi, cơ sở hạ tầng đảm bảo cho nuôi thâm canh. Riêng các tỉnh ven biển từ Bình Thuận tới Quảng Ninh được nuôi trong vùng nuôi tôm của địa phương. Năm 2002, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng của cả nước là 1.710 ha, đạt sản lượng 10.000 tấn. Năm 2007 diện tích nuôi đạt 4.000 ha, sản lượng đạt 30.000 tấn. Từ năm 2008, Bộ NN&PTNT có chủ trương mở rộng phạm vi nuôi tôm nên diện tích, sản lượng tăng nhanh chóng. Năm 2008 diện tích nuôi khoảng 8.000 ha, năm 2009 tăng lên 14.500 ha. Còn năm 2010 đã tăng lên trên 25.300 ha, chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc, chiếm 17.960 ha (chiếm tỷ lệ 72% diện tích nuôi tôm thẻ chấn trắng của cả nước). Còn ở một số tỉnh khu vực ĐBSCL đang phát triển tôm thẻ chân trắng trong phạm vi hẹp. Cụ thể, tỉnh Sóc Trăng năm 2008, thả nuôi 145 ha, năm 2009 là 108 ha, năm 2010 nuôi 161 ha, còn năm 2011 đã thả nuôi được 138 ha. Tỉnh Cà Mau năm 2008 nuôi 40 ha, năm 2009 tăng lên 85,3 ha, năm 2010 có 200 ha, riêng năm 2011 mới thả nuôi được 120 ha. Tại tỉnh Bạc Liêu, năm 2008 thả nuôi được 115 ha, năm 2009 thả nuôi được 394 ha, năm 2010 chỉ thả nuôi được 158 ha.
Báo cáo tham luận của các tỉnh trong khu vực ĐBSCL có nuôi tôm thẻ chân trắng cho thấy: Nuôi tôm thẻ chân trắng có thuận lợi như chưa phát hiện hội chứng Taura xuất hiện ở tôm sú, chỉ xuất hiện bệnh đốm trắng ở tôm thẻ chân trắng, bước đầu xác định bệnh của tôm thẻ chân trắng chưa lây nhiễm sang tôm sú. Khả năng đề kháng của tôm thẻ chân trắng và tính thích nghi nhanh với sự biến thiên của sự thay đổi môi trường, khí hậu, độ mặn. Vòng xoay của tôm thẻ chân trắng nhanh hơn tôm sú (có thể nuôi 1,5 đến 2 vụ/năm, trong khi tôm sú chỉ 1 vụ/năm). Tỷ lệ thiệt hại thấp hơn so với tôm sú. Giá tôm thẻ nguyên liệu đang có chiều hướng tăng cao…Tuy nhiên, nuôi tôm thẻ chân trắng cũng có một số khó khăn như chi phí con giống cao; tôm thẻ ăn nhiều và hoạt động bắt mồi liên tục nên khó kiểm soát được thức ăn; chi phí nhiên liệu cao do phải chạy máy duy trì hàm lượng oxy; hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi tôm còn yếu kém; tổ chức sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, phương thức sản xuất tự phát; môi trường ô nhiễm nghiêm trọng; tình hình sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh còn nhiều, dẫn đến chất lượng tôm nguyên liệu chưa cao; chưa chủ động được nguồn con giống, trình độ kỹ thuật cũng như quản lý của người nuôi chưa đồng đều nên khả năng tiếp cận, cập nhật kiến thức chuyên môn còn hạn chế, chưa có qui trình nuôi cụ thể; việc thu mua tôm thẻ chân trắng của nhà chế biến có lúc hạn chế do phải tốn nhiều nhân công, chi phí bảo quản lớn… Cho nên việc nuôi tôm thẻ chân trắng với quy mô lớn sẽ gặp nhiều bất lợi…
Quang cảnh Hội nghị
Theo báo cáo định hướng phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng của Vụ Nuôi trồng Thủy sản (TCTS), tôm thẻ chân trắng có đặc tính sống ở tầng nước giữa, không vùi mình dưới bùn đáy như tôm sú nên không bị đóng rêu trên vỏ và có thể nuôi được mật độ rất dày (100 - 120 con/m2). Loại tôm này rất rộng muối, rộng nhiệt nên thích nghi tốt với môi trường biến đổi. Thời giam nuôi ngắn, chỉ từ 80 - 90 ngày nên một năm có thể nuôi 3 - 4 vụ. Năng suất đạt bình quân 10 tấn/ha/vụ, thậm chí có nơi đạt 20 tấn/ha/vụ. Trong quá trình nuôi, tôm thẻ chân trắng có thể mang các loại bệnh như tôm sú, ngoài ra chúng còn mang bệnh Taura (hội chứng Taura) làm cho tôm chết hàng loạt, bệnh này có thể lây sang tôm sú làm tổn hại tới ngành nuôi tôm. Cũng theo báo cáo tại Hội nghị, vùng nuôi tôm ở ĐBSCL là vùng hạ triều, nằm sâu trong nội đồng, nền đáy ao là đất thịt đất sét. Hệ thống thủy lợi còn dùng chung của nông nghiệp nên không có kênh cấp, kênh thoát riêng biệt. Ao của người nuôi được đầu tư nhiều nhưng hầu hết tận dụng hết đất làm ao nuôi, không có ao xử lý nước cấp, xử lý nước thải; nước ao nuôi thải thẳng xuống kênh sau đó lại được lấy lên để nuôi nên môi trường ô nhiễm rất nhanh và khi có dịch bệnh sẽ lan nhanh ra cả vùng. Vì vậy, nuôi tôm thẻ chân trắng cần phải được quy hoạch vùng riêng, đầu tư hệ thống thủy lợi chung, ao nuôi phải đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm mới có thể phát triển bền vững.
Về hoạt động kiểm soát Trifluralin trong nuôi trồng thủy sản trong thời gian qua, báo cáo tại hội nghị cho biết: Trong năm 2010, TCTS phối hợp với các cơ quan quản lý địa phương kiểm tra thực tế tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, đại lý và cơ sở nuôi tại các tỉnh Sóc Trăng, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bình Dương, Vĩnh Long, Bến Tre, Long An, TP Hồ Chí Minh… chưa phát hiện sản phẩm có chứa hoạt chất Trifluralin bày bán trên thị trường. Tuy nhiên qua khảo sát, vẫn có tình trạng các sản phẩm ngoài danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam, sản phẩm có xuất xứ, nguồn gốc không rõ ràng, các sản phẩm có chứa Trifluralin vẫn còn lưu thông trên thị trường với số lượng không nhiều. Một số hộ nuôi tôm qui mô nhỏ vẫn còn lén lút sử dụng các sản phẩm có chứa Trifluralin, các sản phẩm kém chất lượng, có xuất xứ, nguồn gốc không rõ ràng ở các địa phương như Bạc Liêu, Cà Mau, Khánh Hòa…
Trước thực trạng sử dụng hoạt chất có chứa Trifluralin trong nuôi trồng thủy sản đã có ảnh hưởng lớn tới chất lượng nguyên liệu, sản phẩm về thủy sản, tại Hội nghị lần này, người nuôi tôm cũng được cung cấp văn bản về tên các sản phẩm hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng và hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản. Đồng thời, các nhà khoa học cũng đưa ra một số sản phẩm có thể thay thế Trifluralin trong nuôi trồng thủy sản như: Các chế phẩm sinh học của Công ty TNHH Trúc Anh (Bạc Liêu); sản phẩm Glutarax và K.c.conc 80 của Công ty TNHH-TM-VD Diên Khánh (Khánh Hòa); VICATO khử trùng của Viện NCNTTS I (Công ty cổ phần Phát triển VITACO); hoạt chất ABAMECTIN của Công ty TNHH công nghệ sinh học MEGA,…
Phát biểu tại Hội nghị, nhiều đại biểu đã có ý kiến đề xuất các ngành chức năng cần tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, chuyển giao nhanh tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất giống, nuôi tôm thẻ chân trắng; quản lý chặt nguồn tôm bố mẹ, nhất là tôm nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam; xây dựng các mô hình cũng như thực hiện một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng… giúp người nuôi tôm đi đúng hướng, góp phần tháo gỡ khó khăn hiện nay, tạo tiền đề phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản của cả nước nói chung và khu vực ĐBSCL nói riêng.
Cao Xuân Lương
Nguồn tin: Sóc Trăng