Giữa đầm loáng nước hợp cùng sắc trời nhấp nhô, ông Tình từ tốn: "Giờ nói về nghề chuôm, mấy anh nghe như tôi nói xạo. Thực tế, khoảng độ năm năm về trước, khi nghề lừ mắc lưới nhỏ chưa có, nghề nò sáo trên phá còn thưa, những trộ chuôm gần đến mùa thu hoạch, ngư dân chèo xuồng đến xem như hội. Khi lưới xiết vây dần, cá lớn, cá nhỏ lúc nhúc trong đám rong tảo; nhiều chú cá mú, cá hồng, cá đối, cá nâu to bằng bàn chân tung bọt, táp nè giữa ao chuôm khiến người đến xem la mừng í ới. Thảy một trộ chuôm thu đến 1 - 2 tạ cá, tôm, cua, bán 5 - 10 triệu đồng là thường. Hồi đó, một năm làm chuôm tính ra vàng một nạm. Nhờ thế, nhiều ngư dân mới có nhà cửa, nuôi con cái lớn khôn chứ kiếm đâu ra...".
Anh em “nhà chuôm”
Ngày nắng sau đợt lũ cuối tháng 11, chúng tôi có mặt ở cửa Tư Hiền và được anh Phan Văn Lợi, Trưởng Chi hội nghề cá xã Lộc Bình (Phú Lộc - Thừa Thiên Huế) giới thiệu hai bậc cao niên Huỳnh Tình, Huỳnh Chí có tài làm chuôm cá. Hai ông này là anh em họ, ở cuối thôn Mai Nha Phường, bên chân phá Cầu Hai... Vừa thấy khách vào sân, ông Huỳnh Tình chưa kịp hỏi han đã than: “Năm nay mưa lũ quá, cá tôm trên đầm trôi theo lũ hết; còn mấy trộ chuôm của gia đình không mất thôi. Sáng nay, dự tính ra xem mấy ô chuôm để Tết xổ lấy tiền chi tiêu”. Vừa dứt lời, ông Tình nói với anh Lợi, rồi khoác áo, chậm rãi đưa khách ra phá Cầu Hai trên chiếc xuồng con giới thiệu 6 trộ chuôm của gia đình mà theo cách ví von của ông là “những chiếc cần câu cơm” của gia đình. Ông nói, mỗi năm vào mùa mưa, nước từ các nơi đổ về làm chốn này chìm ngập trong biển nước mênh mông và trở thành nơi quần tụ lý tưởng cho bao loài thủy sản du cư để chúng tha hồ sinh sôi, phát triển. Nếu không biết dẫn dụ làm cho cá nơi trú ẩn, chúng sẽ đi nơi khác. Vì thế, dù có nhiều cách khai thác đánh bắt thủy sản mới du nhập, nhưng gia đình vẫn giữ nghề chuôm theo kiểu “cha truyền con nối”. Nhờ kinh nghiệm lâu năm, nên nghề làm chuôm đối với ông Tình rất đơn giản. Chỉ cần gom góp cây nè, tre hóp, cành cây... cắm xuống vùng nước “tốt” để cá đến trú ẩn sinh sôi, 3 - 4 tháng sau là có thể thu hoạch.
So sánh về nghề chuôm giữa ông Huỳnh Tình và ông Huỳnh Chí, ai trội hơn ai thì chưa rõ. Ông Chí vì làm chuôm quá lâu năm nên bà con ở đây gắn cho biệt danh “Chí Chuôm”. Năm nay, ông bước vào tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng vóc dáng vẫn rắn chắc khỏe mạnh. Ông vào chuyện thực tình: “Cái nghề chuôm cũng dễ làm, vốn đầu tư ít, nhưng không phải ai cũng làm được đâu. Ở Lộc Bình đã có nhiều người xin “lệnh” xã định vị mặt nước trên phá để làm chuôm nhưng không mang lại hiệu quả”. Theo kinh nghiệm cá nhân, ông tiết lộ, họ thất bại vì chưa chọn được vị trí đặt trộ chuôm hợp lý. Nguyên tắc 3 đủ là phải có độ sâu, mặt đáy bằng và nơi ấy có mạch nước rỉ... Mấy chục năm nay sống nghề sông nước, chuyện làm chuôm đã thấm vào máu thịt của ông. Khác với một số ngư dân, ông không làm chuôm bằng nè, cây, chất chà, mà làm chuôm bằng đá. Theo cách lý giải của ông, khi chọn vị trí tốt đưa đá xuống sắp xếp như rặng san hô, tạo hộc, hang dưới đáy. Mỗi trộ lớn hay nhỏ tùy theo mình sắp xếp đá, nhưng trộ nhỏ nhất cũng là một khối đá. Cách làm này chỉ đầu tư một lần, sau đó thu hoạch dài dài; đồng thời, lại tạo vẻ mỹ quan, không ảnh hưởng đến luồng lạch trên phá. Khi thu hoạch chỉ cần vung chài, vây bắt cá rất nhanh gọn... Ông nhẫm tính, hiện trên đầm phá Cầu Hai, ông sở hữu khoảng trên 30 trộ chuôm bằng đá lớn nhỏ, hàng tháng vào mùa nước cạn, cứ 5 - 10 ngày ông đi thảy một trộ, tiền vào túi đều đều...
Ông Lê Túy, Bí thư Đảng ủy xã Lộc Bình cho hay, nếu tính về kinh tế, nghề chuôm mang lại hiệu quả gấp nhiều lần so với trồng lúa và rau màu, cũng như các nghề lưới chài thuần túy khác trên đầm phá. Làm chuôm cũng là cách bảo vệ nguồn cá tự nhiên, giúp cho người dân làm được lợi. Xét kỹ hơn, làm chuôm cá có nhiều chức năng, nhiệm vụ tương đồng như các khu bảo vệ thủy sản mà hiện nay tỉnh, huyện đang xây dựng trên đầm phá. Tuy nhiên, làm chuôm để dụ cá vào trú ẩn, sinh nở có quy mô nhỏ hơn, hộ gia đình quản lý. Ông Túy cũng cho biết, mấy năm trước các thầy ở Trường đại học Nông lâm Huế về nghiên cứu, khảo sát xây dựng mô hình làm chuôm trên địa bàn. Cách làm của các thầy cũng tương tự như anh em nhà họ Huỳnh ở thôn Mai Gia Phường, nhưng bài bản hơn, giúp cho người dân nắm được quy tắc trong sử dụng chuôm; đồng thời, là cách nói với người dân về tầm quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, xây dựng phát triển nông thôn. Những hộ tham gia đã tuân theo quy định chung, không đánh bắt bừa bãi, hủy diệt cá bé, trả lại cân bằng sinh thái trên đầm phá...
Cá vừa thu hoạch từ trộ chuôm ở xã Lộc Bình
PGS. TS Nguyễn Quang Linh - Trưởng Khoa Thủy sản - Trường ĐH Nông lâm Huế cho biết, năm 2009, Khoa Thủy sản - Trường ĐH Nông lâm Huế xây dựng thành công chuôm cá đồng bằng từ nguồn tài trợ quốc tế. Các nhà khoa học phối hợp với nông dân ở Vinh Hưng, Lộc Bình (Phú Lộc), Phú Thanh (Phú Vang) làm các ngôi nhà sinh hoạt cộng đồng, bảo vệ nuôi trồng thủy sản bền vững; trong đó chọn đầm Nậy ở thôn Hải Trình, Phú Thanh làm 5 trộ chuôm dẫn dụ cá tự nhiên về sống. Hơn năm tháng trôi qua, thành quả mang lại bất ngờ hơn cả dự kiến: cá rô, lóc, trê, diếc... nhung nhúc, sản lượng cá gần 3 - 4 tạ/chuôm. Cá quần tụ nhiều kéo theo các loài cộng sinh khác xuất hiện. Thầy Linh diễn giải, thành công như thế là nhờ có sự kết hợp từ nhà khoa học, cán bộ cho đến người dân. Những người trong cuộc cùng chính quyền địa phương phổ biến hương ước cấm bắt cá trong chuôm cá, không được đánh bắt cá con, không dùng xung điện đánh bắt cá, thời điểm nào được phép đánh bắt, lưới kích cỡ thế nào để không gây hại đến nguồn thủy sản tương lai. Người dân bảo vệ chuôm lại được hưởng lợi từ sản phẩm thu hoạch.
Trên phá Tam Giang - Cầu Hai, hay các sông đầm, kênh mương là nơi lý tưởng xây dựng các chuôm cá, bởi chi phí không cao, vừa khôi phục nguồn cá tự nhiên vừa thu lợi kinh tế dài lâu. Thầy Linh nhắc lại khá kỹ, dù ở quy mô nhỏ nhưng mô hình chuôm là những điểm dẫn dụ, duy trì cá tự nhiên đến trú ẩn sinh sôi, tạo môi trường thủy sản phong phú. Vấn đề là các cấp chính quyền địa phương có xem trọng tái tạo nguồn cá tôm tự nhiên theo mô hình chuôm hay không. Nếu tạo điều kiện thuận lợi, chuyện tái tạo tôm cá, trả lại môi trường phong phú trên sông đầm như hàng chục năm về trước là không khó, bởi đơn giản chỗ nào có nước là ở đó có cá.
Ông Huỳnh Chí giới thiệu tay chài để vây bắt cá ở chuôm đá
Đầu năm 2012, Khoa Thủy sản - Trường ĐH Nông lâm Huế tiếp tục triển khai những mô hình làm chuôm trên một số vùng ven phá Tam Giang - Cầu Hai và đầm Nậy ở xã Phú Thanh thông qua các nguồn hỗ trợ tổ chức nước ngoài. Nhưng triển khai thế nào nhằm nhân rộng, phát triển ổn định bền vững cũng là câu chuyện mà những người trong cuộc đang suy tính.
TS Lê Công Tuấn - Bộ môn Quản lý môi trường và nguồn lợi Thủy sản - Khoa Thủy sản - Trường Đại học Nông lâm Huế:
Nghề chuôm (Fish sanctuary) có xuất xứ lâu đời ở miền bắc. Vào năm 1954, khi một số người bắc di cư vào nam gọi tên là “Chà rạo”. Chà rạo là một dạng bẫy cá trên sông, đầm phá bằng tre, nè, hóp, cây dành dành. Người ta chọn một khoảng, một vị trí, từ vài chục đến vài trăm mét vuông trên sông đầm nơi có hang, chỗ hàm ếch, bụi cây... Sau đó lấy cành cây, tre nè, hóp... bó thành từng bó cắm hoặc chất xuống đáy. Tiếp đến người ta cắm nhiều cọc tre để chắn, bao bọc chung quanh. Trên mặt rải từng đám rau, cỏ, bèo lục bình để che nắng, giảm sóng để dẫn dụ cá đến trú ẩn, sinh nở. Cứ vài tháng giở một lần gọi là thảy chuôm.
Minh Văn
Nguồn tin: Báo Thừa Thiên Huế