Trong nuôi thâm canh cá rô phi, quản lý sức khỏe cá và môi trường nuôi. Cá rô phi là những loài cá nuôi ít bị sốc (stress) với biến đổi của môi trường và có khả năng kháng được một số bệnh, nhưng trong quá trình nuôi cũng phát một số bệnh ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thực phẩm. Việt Nam là nước trong khu vực Ðông Nam á, có khí hậu ấm áp và có đủ điều kiện để sản xuất cá rô phi hướng tới xuất khẩu, nhưng khí hậu nhiệt đới cũng là điều kiện cho bệnh tật phát triển. Trong quá trình ương nuôi cá giống đến nuôi cá thương phẩm cá rô phi thường gặp một số bệnh như sau:
![]() | |
Hình 15: Cá bị bệnh nắp mang, thân, đuôi xuất huyết | |
![]() | |
Hình 16: cá rô phị bệnh viêm ruột, ruột trương to, chứa đầy hơi | |
![]() |
Hình 17: trùng bánh xe ký ở cá rô phi (1- Trichodina centrostrigata, 2- T. domerguei domerguei, 3- T. heterodentata, 4- T. nigra, 5- T. orientalis, 6- Trichodinella epizootica, 7-Tripartiella bulbosa, 8- T. clavodonta) |
Phòng trị bệnh: Dùng nước muối NaCl 2-3% tắm cho cá 5-15 phút, dùng CuSO4 nồng độ 3-5 ppm (3-5g/m3
![]() |
Hình 18: Trùng bánh xe bám dày đặc trên vây cá rô phi hương |
![]() | ||||||
Cá bệnh nổi đầu trên tầng mặt, bơi lờ đờ yếu ớt. Lúc đầu cá tập trung gần bờ, nơi có cỏ rác, quẫy nhiều do ngứa ngáy. Trùng bám nhiều ở mang, phá hoại biểu mô mang làm cá ngạt thở. Khi cá yếu quá chỉ còn ngoi đầu lên để thở, đuôi bất động cắm xuống nước. Phân bố và lan truyền bệnh: Bệnh trùng quả dưa ở nhiều loài cá trắm cỏ, chép, mè trắng, mè hoa, trôi, rô phi (Hà Ký,1968), cá thát lát (Nguyễn Thị Muội,1985), cá tra nuôi, trê vàng, trê phi, duồng, leo (Bùi Quang Tề,1990). Ngoài ra, một số cá cảnh cũng thường mắc bệnh này. Cá rô phi lưu qua đông ở miền Bắc hoặc nuôi trong nhà, thường gặp trùng qủa dưa gây bệnh làm cá chết hàng loạt. Bệnh trùng quả dưa phát vào mùa xuân, mùa đông. Phòng trị bệnh: Dùng Formalin tắm với nồng độ 200-250 ppm (200-250 ml/m3) thời gian 30-60 phút hoặc phun xuống ao nồng độ 20-25 ppm(20-25 ml/m3) mỗi tuần phun 2 lần. Tác nhân gây bệnh: Sán lá đơn chủ Cichlidogyrus tilapiae, C. sclerosus, Gyrodactylus niloticus (hình 20, 21). Dấu hiệu bệnh lý: Cichlidogyrus, Gyrodactylus ký sinh trên da và mang của cá. Lúc ký sinh chúng dùng móc của đĩa bám sau bám vào tổ chức tuyến đầu tiết ra men hialuronidaza phá hoại tế bào tổ chức mang và da cá làm cho mang và da cá tiết ra nhiều dịch nhờn ảnh hưởng đến hô hấp cá. Tổ chức da và mang bị Cichlidogyru, Gyrodactylus ký sinh viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số sinh vật xâm nhập gây bệnh.
Phân bố và lan truyền bệnh: Sán lá đơn chủ ký sinh ở cá rô phi nuôi ở Việt Nam gặp có 3 loài, chúng có thể gây thành bệnh khi nuôi mật độ dày ở giai đoạn ương cá giống và có thể gây chết hàng loạt cá ương trong các giai hoặc các bể. Bệnh phát vào mùa xuân, mùa thu, mùa đông. Phòng trị bệnh: - Dùng nước muối NaCl 2-3% tắm cho cá 5-15 phút - Dùng KMnO4 nồng độ 20 ppm (20g/m3) tắm cho cá trong thời gian 15 -30 phút - Dùng Formalin tắm với nồng độ 200-250 ppm (200-250 ml/m3) thời gian 30-60 phút hoặc phun xuống ao nồng độ 20-25 ppm(20-25 ml/m3) . 2.4 Bệnh rận cá Tác nhân gây bệnh: rận cá Caligus sp. (hình 22) Dấu hiệu bệnh lý: Rận cá Caligus thường ký sinh ở vây, mang cá rô phi. Caligus dùng cơ quan miệng, các gai xếp ngược ở mặt bụng cào rách tổ chức da cá làm cho da cá bị viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng khác xâm nhập, vì vậy nên nó thường cùng lưu hành với bệnh đốm trắng, bệnh đốm đỏ, lở loét nên dẫn đến làm cá chết hàng loạt. Mặt khác, Caligus còn dùng tuyến độc qua ống miệng tiết chất độc phá hoại vật nuôi. Cá bị Caligus ký sinh có cảm giác ngứa ngáy, vận động mạnh trên mặt nước, bơi lội cuồng dại, cường độ bắt mồi giảm.
Phân bố và lan truyền bệnh:Rận cáCaligusphân bốởvùng nước ngọt vàcửa sông (nước lợ) chúng ký sinh nhiều loài cánuôi, cá rô phi nuôi mậtđộdày, rận cá ký sinh vàđã gây chết cá hàng loạt nhưởcácđầmnước lợhoặc nước ngọtởHảiPhòng, Ninh Bình, Quảng Ninh, Bến Tre, Phòng trị bệnh: -Dùng KMnO4nồngđộ3-5 ppm (3-5g/m3)phun xuống ao hoặc Chlorine phun xuống ao nồngđộ1ppm (1g/m3) -Dùng Formalin phun xuống ao nồngđộ20-25 ppm(20-25 ml/m3). Khi bị lạnh cá rô phi thường chúi xuống bùn để trú ẩn và thường bị nấm thuỷ miSaprolegniatấn công. Cá vừa bị rét, lại bị nấm thuỷ mi tấn công nên rất dễ bị chế trong mùa đông. Ngoài ra còn gặp một số bênh trên cá rô phi khác như thiếu dinh dưỡng (Zn) làm cá bị đục mắt, thếu Can xi làm bộ xương yếu ... Tuy nhiênnhững bệnh này không lây lan mạnh và không ở mức độ nghiêm trọng Phòng ngừa bệnh là biện pháp quan trọng, đảmbảo cho cá không bị mắc bệnh và sinh trưởng nhanh. Các biện pháp chính bao gồm: Tẩy dọn ao đúng kỹ thuật: ao nuôi được tẩy dọn, vét bùn,bón vôi 7-10kg/100m2 để diệt mầm bệnh và các sinh vật gây hại cho cá. Chọn giống đủ tiêu chuẩn, không mang các mầm bệnh. Cho cá ăn và chăm sóc tốt theo đúng qui trình nuôi. Cho cá ăn đủ và cân bằng dinh dưỡng, quản lý tốt chất lượng nước môi ao hồnuôi. Trong quá trình nuôi cần theo dõi thường xuyên hoạt động của cá, biến động các yếu tố môi trường để có biện pháp xử lý kịp thời. Khi phát hiện cá có biểu hiện bệnh không nên tự chữa trị và sử dụng kháng sinh bừa bãi vì sẽ ảnh hưởng đến chất lượngsản phẩm. Nên báo ngay cho các cán bộ chuyên môn đểcó biện pháp phòng trị kịp thời. Tuy nhiên đối với một số bệnh thông thường thì có thể phòng trị nhưđã nêu ở trên. Không sử dụng các loại hoá chất, kháng sinh đã bị cấm trong nuôi trồng thuỷ sản Theo nghean.gov.vn |








